THÀNH TỰU NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA KHOA THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ GIAI ĐOẠN 2011-2015   11/12/2015 11:44:51 PM

            Trong giai đoạn 2011- 2015, khoa Thương mại quốc tế đạt được một số thành tựu về nghiên cứu khoa học cụ thể như sau:

Thứ nhất: Đề tài khoa học các cấp bảo vệ thành công

                        - Cấp Bộ và tương đương  02

                        - Cấp cơ sở: 16

            Thứ hai: Các bài báo khoa học công bố:

                        - Trên các tạp chí khoa học tính điểm: 29 tiếng Việt;

                        - Trên Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia, quốc tế trong nước: 22 tiếng Việt; .04 tiếng Anh (Pháp)

I. Đề tài nghiên cứu khoa học chuyên ngành

1. Đề tài cấp Nhà nước

2. Đề tài cấp Bộ và tương đương

2.1. Tên đề tài: Nghiên cứu giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm  da giầy của Việt nam trong điều kiện hiện nay

Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Doãn kế Bôn

Thành viên tham gia đề tài: TS. Lê Việt Nga; ThS. Trương Quang Minh; ThS. Vũ Anh Tuấn.

Quyết định giao đề tài (hoặc Hợp đồng) số 34 ngày 24 tháng 05 năm 2011 của Bộ Công Thương

Quyết định nghiệm thu chính thức đề tài số 42 ngày 20 tháng 09 năm 2012 của Bộ Công Thương

Kết quả nghiệm thu đề tài (xếp loại): Xuất sắc

Tóm lược nội dung đề tài bằng tiếng Việt (500 - 550 từ)

Việt Nam được xếp hạng là một trong 10 nước xuất khẩu hàng đầu trên thị trường quốc tế về da giày, xếp thứ 4 về xuất khẩu giày dép. Riêng ở thị trường EU, Việt Nam xếp thứ hai sau Trung quốc.  Trong khi đó, hoạt động sản xuất, xuất khẩu các sản phẩm da giầy của các doanh nghiệp Việt nam cũng còn nhiều hạn chế. Quy mô của các doanh nghiệp còn nhỏ, thiếu vốn, công nghệ lạc hậu và chậm đổi mới, chưa chủ động được nguồn nguyên phụ liệu, các nguyên liệu chính chủ yếu là nhập khẩu, khả năng thiết kế mẫu chưa cao, thiếu nguồn nhân lực có chất lượng cao, khả năng cung ứng hàng hóa cho xuất khẩu còn gặp khó khăn. Mặc dù kim ngạch xuất khẩu có tăng, nhưng thị trường xuất khẩu còn hẹp, khả năng đổi mới và đa dạng hóa mặt hàng còn gặp nhiều khó khăn, khả năng cạnh tranh của các sản phẩm da giầy còn ở mức thấp, chưa có các thương hiệu có uy tín, chủ yếu là gia công xuất khẩu tỷ lệ xuất khẩu trực tiếp còn ở mức thấp dẫn đến hiệu quả và phát triển xuất khẩu chưa cao.

Đứng trước những khó khăn, thách thức như trên, việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng nhằm đưa ra các giải pháp duy trì, đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả xuất khẩu các sản phẩm da giầy của Việt nam trong điều kiện hiện nay là một vấn đề rất cấp thiết.

Abstract (350 - 400 từ)

Vietnam is rated as one of 10 leading exporting countries on the international market for footwear, ranked No. 4 in exporting footwear. Particularly in the EU, Vietnam ranked second after China.

Footwear is the main export item, using over 600 thousand employees and hold important positions in the structure of export products of Vietnam. Maintain and promote export of footwear products are not only economic significance but also political significance and profound social. The last time exports of leather shoes has achieved encouraging results. The export turnover of Vietnam footwear industry average growth rate of 16% annually. But exports of Vietnam's footwear is currently facing many difficulties. From 01.01.2009, the EU officially launched the Vietnamese footwear products from the list of countries enjoying preferential tariffs extend GSP and anti-dumping duty lies with Vietnam's leather shoes 15 months. Besides, the situation of the global economic downturn has also negatively impact the demand for imports by major markets like the US, EU, Japan and some other countries. These markets also offer many measures to control the import goods, including leather goods and footwear. With such difficulties, the footwear exporter in the world are looking for solutions to increase exports, making competition in the world market becomes more acute.

Facing the difficulties. Challenges like this, research and evaluation in order to provide solutions to maintain, promote and improve the efficiency of export products of Vietnam's footwear in the present context is a very urgent problem.

2.2. Tên đề tài: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu giầy dép theo tiếp cận cận của chuỗi giá trị toàn cầu

Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Doãn kế Bôn

Thành viên tham gia đề tài: TS. Lê Việt Nga; ThS. Trương Quang Minh; ThS. Vũ Anh Tuấn.

Quyết định giao đề tài số 54 ngày 12 tháng 10 năm 2012 của Bộ Giáo dục và Đào tạo


 

Quyết định nghiệm thu chính thức đề tài số 47 ngày 05 tháng 11 năm 2013

Kết quả nghiệm thu đề tài (xếp loại): Tốt

Tóm lược nội dung đề tài bằng tiếng Việt (500 - 550 từ)

Trong nhiều năm trở lại đây các sản phẩm giày dép luôn nằm trong nhóm các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Trong khi đó, thực tế cho thấy năng lực sản xuất, xuất khẩu các sản phẩm giày dép của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế còn nhiều hạn chế. Đa phần quy mô của các doanh nghiệp còn nhỏ, thiếu vốn, công nghệ lạc hậu và chậm đổi mới, chưa chủ động được nguồn nguyên phụ liệu khi các nguyên liệu chính chủ yếu vẫn phải nhập khẩu, khả năng thiết kế mẫu chưa cao, thiếu nguồn nhân lực có chất lượng, giá thành sản xuất cao và khả năng cung ứng hàng hóa cho xuất khẩu còn gặp khó khăn. Nhiều doanh nghiệp giày dép của Việt Nam hiện chủ yếu vẫn đang tận dụng lợi thế về chi phí nhân công để tập trung khai thác các đơn hàng gia công cho đối tác nước ngoài, điều này đồng nghĩa với việc chúng ta vẫn chủ yếu dựa vào “bán” sức lao động là chính. Chính điều này dẫn tới dù kim ngạch xuất khẩu có tăng qua từng năm, nhưng thị trường xuất khẩu khó mở rộng, khả năng đổi mới và đa dạng hóa mặt hàng còn gặp nhiều khó khăn, năng lực cạnh tranh của các sản phẩm giày dép còn yếu, chưa có các thương hiệu có uy tín, đồng thời giá trị gia tăng của các sản phẩm giày dép xuất khẩu rất thấp dẫn đến hiệu qủa của xuất khẩu chưa như mong đợi.

Đứng trước những khó khăn và thách thức như trên, việc nghiên cứu, đánh giá  nhằm đưa ra các giải pháp để duy trì và đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm giày dép của Việt Nam trong điều kiện hiện nay là một vấn đề rất cấp thiết. Dựa trên cách tiếp cận chuỗi giá trị toàn cầu, nhóm nghiên cứu đề tài mong muốn tìm ra những giải pháp phù hợp để thời gian tới có thể đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng giày dép Việt Nam theo hướng không chỉ tăng lượng hàng xuất khẩu mà còn nâng cao giá trị gia tăng cho các sản phẩm xuất khẩu thông qua việc tham gia sâu và khai thác hiệu quả các công đoạn tạo ra giá trị nhiều hơn chuỗi giá trị giày dép toàn cầu.

Abstract (350 - 400 từ)

In many years of footwear products are among the major export items of Vietnam. The industry currently uses over 600 thousand employees and hold important positions in the structure of our country's exports. Currently, Vietnam ranks fourth in the group of 10 leading exporting countries on the international market for footwear, particularly in the EU, Vietnam ranked second only after China. Therefore, maintaining and promoting the export of footwear products not only have economic significance, but also has political significance and profound social. With the development strategy and supporting policies accordingly, last time export of footwear products of Vietnam has gradually achieved encouraging results. The export turnover of the whole industry average growth rate of over 16%. However, besides the export opportunities of Vietnam's footwear is facing many difficulties. For example, the EU officially launched Vietnam footwear products from the list of countries enjoying GSP preferential tariff from 01/01/2009 and extend the anti-dumping duty lies with leather shoes Vietnam by another 15 months. Besides, the negative impact from the global economic crisis has negatively affected the purchasing power and demand for imports by major markets like the US, EU, Japan and some other countries . These markets also launched several measures to control imports, including footwear. To overcome such difficulties, the exporter of footwear in the world, including Vietnam, are searching for ways to maintain and increase exports, which makes the level of competition in the market the world becomes more acute.

Facing the difficulties and challenges like this, research and evaluation in order to provide solutions to maintain and promote the export of footwear products of Vietnam in the present context is a very urgent problem set. Based on the approach of global value chains, the researchers wanted to find out the subject of appropriate solutions for the future may boost exports Vietnam's footwear industry towards not only increase exports but also enhance the added value of products exported through deep involvement and effective extraction processes create more value chain of global footwear.

3. Đề tài cấp trường

3.1. Tên đề tài: Bảo hộ hợp lý ngành thép của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế phù hợp những quy định của WTO

Chủ trì đề tài: Ths. Lê Thị Việt Nga. Ths. Phan Thu Trang, CN. Vũ Anh Tuấn

Quyết định giao đề tài (hoặc Hợp đồng) số 881/QĐ-ĐHTM ngày 23 tháng 11 năm  2011 của trường Đại học Thương mại

Quyết định nghiệm thu đề tài số 873/QĐ-ĐHTM ngày 20 tháng 05 năm 2012 của trường Đại học Thương mại

Kết quả nghiệm thu đề tài (xếp loại): Tốt

Tóm lược nội dung đề tài bằng tiếng Việt (350 - 400 từ)

Việt Nam đã gia nhập WTO, phải thực hiện những cam kết về mở cửa thị trường và tự do hóa thương mại phù hợp những nguyên tắc và quy định của Tổ chức này. Điều này khiến áp lực cạnh tranh từ các nhà sản xuất nước ngoài đối với ngành sản xuất trong nước ngày càng tăng, đặt ra nhiều thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, trong đó có các doanh nghiệp ngành thép. Các doanh nghiệp thép trong nước đang phải đối mặt với áp lực cạnh tranh lớn từ các doanh nghiệp thép nước ngoài, điển hình là Trung Quốc. Vì vậy lựa chọn biện pháp phù hợp quy định của WTO để bảo hộ ngành thép của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập trước sức ép cạnh tranh của các doanh nghiệp nước ngoài nhằm tạo điều kiện phát triển ngành thép của Việt Nam trong tương lai. Đề tài đã nghiên cứu về những biện pháp bảo hộ hợp lý phù hợp những quy định của WTO, thực trạng bảo hộ ngành thép ở Việt Nam và đề xuất những giải pháp để sử dụng những biện pháp phù hợp WTO nhằm bảo hộ hợp lý ngành thép của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

Summary:

Today, international trade is playing an increasingly important role in the global economy. Becoming a member of the World Trade Organization (WTO) is a major step of Vietnam in the processes to join liberation of trade after more than two decades of renewal and opening with many impressive achievements. In order to take full advantages of benefit from liberation of trade; reduce negative impacts from competitiveness of imported products to  protect the weak domestic industry, gradually reach out to develop regional markets and the world’s market, the question of reasonable protection of domestic production in the trend of liberation of trade is a critical requirement set out to Vietnam. The study focuses on reasonable protection measures applied toVietnam’s steel industry

3.2. Tên đề tài: Phát triển dịch vụ vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển của VIệt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế

Chủ trì đề tài: TS Lê Thị Việt Nga

Quyết định giao đề tài (hoặc Hợp đồng) số 348/QĐ-ĐHTM ngày 24 tháng 6 năm 2013 của Trường Đại học Thương mại

Quyết định nghiệm thu đề tài số 263/QĐ-ĐHTM ngày 24/4/2014 của Trường Đại học Thương mại

Kết quả nghiệm thu đề tài (xếp loại): Khá

Tóm lược nội dung đề tài bằng tiếng Việt:

Cùng với tiến trình tự do hóa thương mại về dịch vụ, các ngành dịch vụ nói chung và dịch vụ vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển nói riêng đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế của mỗi quốc gia cũng như nền kinh tế khu vực và thế giới. Với dịch vụ vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển, hàng năm, từ 80 – 90% khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu của thế giới và khoảng 80% khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam được vận chuyển bằng tàu biển. Việt Nam cũng như những quốc gia có lợi thế và tiềm năng phát triển dịch vụ vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển đã xác định đây là một trong những ngành dịch vụ quan trọng, tạo động thúc đẩy tăng trưởng và phát triển cho nền kinh tế. Đặc biệt, trong điều kiện hiện nay, dịch vụ vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển phát triển sẽ tạo công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động, tạo cơ sở hình thành những ngành nghề thương mại mới như dịch vụ logistics, dịch vụ sửa chữa tàu biển,… Đề tài đã nghiên cứu những vấn đề lý luận về dịch vụ vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, phát triển dịch vụ vận chuyển hàng hóa bằng đường biển và đề xuất những giải pháp phát triển dịch vụ vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển trên cơ sở thực trạng về dịch vụ vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển ở Việt Nam trong những năm qua.

Summary:

Every year, from 80-90% weight of imported and exported goods of the world and about 80% weight of imported and exported goods of Vietnam are transported by maritime transport service. Vietnam has had advantages to develop maritime transport service, which is about 3,260 km coastline; favorable conditions to build a deep-water harbour; adjacency to important international marine routes; early developed marine sector and one of 35 biggest maritime fleets of the World engaging on international transport route. However, Vietnam’s maritime transport service has only met about 15% - 18% of domestic demand for transportation of goods imported by maritime route, and services at the port have not met requirements of market economy. Especially, through implementation of international commitments on opening market in maritime transport service, Vietnam’s maritime transport service is facing many difficulties and challenges in the context the international and national business environment has much fluctuation in economics, politics and critical competition. In the context Vietnam has participated more deeply in the process of international economic integration, especially from January 11, 2007, Vietnam became an official member of the World Trade Organization (WTO ), Vietnam must comply with operational principles including the principle of liberalization in service trade, must implement international commitments, including commitments to open market of maritime transport service. The question is how to develop maritime transport service in Vietnam in terms of international economic integration today, how Vietnam becomes a powerful nation in favour of maritime and enriches by maritime in 2020. To solve these shortcomings, it needs a specific and comprehensive research on development of maritime transport service in the context Vietnam integrates further into the regional and the world’s economy. That is the reasons why the author chooses the subject: “Development of goods transportation by sea of Vietnam to meet the requirements of international economic integration” to be my study.

3.3. Tên đề tài: Nghiên cứu kinh nghiệm quản trị khác biệt văn hóa trong hoạt động M&A quốc tế cho học phần Quản trị đa văn hóa

Chủ nhiệm đề tài: TS Lê Thị Việt Nga

Quyết định giao đề tài (hoặc Hợp đồng) số 444/QĐ-ĐHTM ngày 18 tháng 6 năm 2014 của Trường Đại học Thương mại

Quyết định nghiệm thu đề tài số 236 QĐ-ĐHTM gnày 21 tháng 4 năm 2015 của Trường Đại học Thương mại

Kết quả nghiệm thu đề tài (xếp loại): Khá

Tóm lược nội dung đề tài bằng tiếng Việt:

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, tự do hóa thương mại và đầu tư, áp lực cạnh tranh đối với các doanh nghiệp ngày càng lớn, đòi hỏi các doanh nghiệp phải thích ứng và phát triển để tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường. Vì vậy, phát triển doanh nghiệp là yêu cầu tất yếu đặt ra đối với bất kỳ doanh nghiệp nào trong điều kiện áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt. Một trong những hoạt động được các doanh nghiệp thực hiện nhằm phát triển doanh nghiệp, tăng cường vị thế và năng lực cạnh tranh là M&A. Tuy nhiên, không phải lúc nào các doanh nghiệp đều thành công trong hoạt động M&A. Nhiều nghiên cứu cho thấy khoảng 60% giao dịch M&A trên thế giới thất bại với nguyên nhân từ yếu tố văn hóa quốc gia và văn hóa doanh nghiệp. Khác biệt văn hóa đã trở thành yếu tố cản trở hoạt động M&A đạt được những thành công mong đợi. Vì vậy, nghiên cứu về ảnh hưởng của khác biệt văn hóa đến hoạt động M&A quốc tế và quản trị khác biệt văn hóa trong hoạt động M&A quốc tế nhằm tìm ra chiến lược, cách thức giúp doanh nghiệp có thể thành công trong hoạt động M&A và có điều kiện phát triển vững chắc trên thị trường là cần thiết.

Summary:

Merger and acquisition (M&A) is considered as one of the most effective ways for companies to  obtain competitive advantages. Especially, in the globalisation era, cross-border M&A has become an important strategy, which can help companies to get global resources better. However, sixty percent of M&As fails because of cultural differences, including national culture and business culture (Bo Xu, Junmin Yang, Xi Jiang, 2013). The author analyses the effects of cultural difference on cross border M&A and the role of cross cultural management. THe author also analyses outstanding cases to see the experience of cross cultural management in cross border M&A and gives some lessons for Vietnamese businesses.

3.4. Tên đề tài: Hạn chế rủi ro trong xuất khẩu thủy sản ở công ty xuất nhập khẩu thủy sản Hà Nội

Chủ trì đề tài: Nguyễn Bích Thủy

Quyết định giao đề tài (hoặc Hợp đồng) số 878/ QĐ-ĐHTM ngày 23 tháng 11 năm  2011 của trường Đại học Thương mại

Quyết định nghiệm thu đề tài số..853..ngày 28  tháng 05 năm  2012 của trường Đại học Thương mại

Kết quả nghiệm thu đề tài (xếp loại): Tốt

Tóm lược nội dung đề tài bằng tiếng Việt (350 - 400 từ):

Rủi ro tồn tại khách quan trong hoạt động kinh doanh nói chung và trong quá trình xuất khẩu thủy sản ở công ty xuất nhập khẩu thủy sản Hà Nội. Rủi ro luôn rình rập và xuất hiện ở mọi doanh nghiệp, không phân biệt là doanh nghiệp lớn hay nhỏ, doanh nghiệp nhà nước hay tư nhân, doanh nghiệp có thâm niên hay doanh nghiệp non trẻ. Không chỉ ở mọi nơi mà rủi ro còn có thể xảy ra ở mọi lúc, mọi giai đoạn của quá trình xuất khẩu thủy sản từ lúc tìm hiểu thị trường, ký kết, và tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu. Rủi ro có thể xuất hiện  ngay từ khi bắt đầu lựa chọn đối tác, có thể xuất hiệ trong các khâu soạn thảo hợp đồng, ký kết hợp đồng và toàn bộ quá trình ký kết thực hiện hợp đồng. Cùng với sự phát triển của xã hội thì rủi ro cũng ngày càng diễn biến phức tạp hơn, đa dạng hơn, khó lường hơn. Hậu quả của rủi ro thật khôn lường, cũng có thể nhỏ, không đáng kế, nhưng cũng có thể hết sức trầm trọng, làm cho doanh nghiệp suy yếu đi, thậm chí phá sản. Rủi ro không chỉ dẫn đến những tổn thất về vật chất, tài lực mà còn có thể gây ra tổn thất không thể tính toán được như uy tín, danh tiếng, thương hiệu.

Summary:

Basing on the assessment of chance, challenge, focast of risks in seafood exporting of the Vietnamese enterprises, the author point out viewpoints to deal with the titile as following: Risks exist objectively, but the human by his knowledge of objective world, can partly prevent risks, reducing damage and focast risks arised; the risk prevention can create competitive advantage for seafood exporting; the risk prevention must go with making use of present resource; The risk prevention can not saperate from the global production and consumption; The risk prevention must go with the sustainable seafood exporting development; The risk prevention must be flexible to the world market, and the risk prevention must suitable with the viewpoint of seafood development which is approved in the strategy of seafood development to the year of 2020.

3.5. Tên đề tài: Nâng cao chất lượng thủy sản xuất khẩu sang thị trưởng Nhật Bản (định hướng nghiên cứu tại công ty cổ phần kinh doanh thủy sản Sải Gòn)

Chủ trì đề tài: Nguyễn Bích Thủy

Quyết định giao đề tài (hoặc Hợp đồng) số 750/QĐ-ĐHTM ngày 22 tháng 11 năm  2012 của trường Đại học Thương mại

Quyết định nghiệm thu đề tài số 678 ngày 22 tháng 05 năm  2013 của trường Đại học Thương mại

Kết quả nghiệm thu đề tài (xếp loại): Tốt

Tóm lược nội dung đề tài bằng tiếng Việt (350 - 400 từ)

Trong thời đại ngày nay, nâng cao chất lượng thủy sản là yêu cầu có tính sống còn với các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản sang các thị trường khó tính như Nhật Bản. Các yêu cầu khắt khe về chất lượng hàng hóa bao gồm cả tiêu chuẩn quy định những đặc tính của sản phẩm, quy định về các phương pháp sản xuất và chế biến (PPM) và các tiêu chuẩn về ô nhiễm, hạn chế xuất nhập khẩu, yêu cầu về bao bì, yêu cầu về nhãn mác môi trường sẽ khiến cho công tác quản lý chất lượng sản phẩm trở nên phức tạp hơn. Bài học cho các doanh nghiệp VN là chất lượng kém không chỉ bị trả hàng, mà sau đó là một hàng rào quản lý chất lượng khắt khe được dựng lên. Người Nhật chấp nhận mua giá cao nhưng họ muốn giá phải được duy trì ở một mức ổn định trong một khoảng thời gian và chất lượng phải cao. Nguyên tắc cốt lõi vẫn là phải xây dựng được sự tin cậy lẫn nhau và một trong những điều kiện tiên quyết là không ngừng nâng cao chất lượng thủy sản phù hợp với yêu cầu chất lượng của thị trường này.

Summary:

Today, quality of product is an important requirement of seafood expoeting enterprises especially Japanese consumers. But requirement of production, processing, products, environment, pollution, packaging makes quality management of seafood comolicatedly. The research focused on quality managemen in Saigon seafood exporting company to find out the matters, so suggesting some measures to deal with them.

3.6. Tên đề tài: Giải pháp nâng cao khả năng đáp ứng các quy định của Hoa Kỳ liên quan đến bảo vệ môi trường theo cách tiếp cận các định chế của WTO đối với doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam

Chủ trì đề tài: ThS. Phan Thu Trang, CN Trương Quang Minh, CN Lê Quốc Cường

Quyết định giao đề tài (hoặc Hợp đồng) số 568 ngày 11 tháng năm  2010 của Trường Đại học Thương mại

Quyết định nghiệm thu đề tài số 534 ngày 21 tháng 04 năm 2011 của Trường Đại học Thương mại

Kết quả nghiệm thu đề tài (xếp loại): tốt

Tóm lược nội dung đề tài bằng tiếng Việt (350 - 400 từ)

Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển của thương mại luôn đi liền với những thách thức về môi trường. Xét trên bình diện quốc tế, trong khi các hàng rào phi thuế quan dần được loại bỏ, thuế quan liên tục được cắt giảm, thương mại quốc tế ngày càng thuận lợi và tự do hơn thì các tiêu chuẩn môi trường lại được sử dụng phổ biến ở các nước phát triển để hạn chế thương mại từ các nước đang phát triển. Kinh nghiệm của các nước trên thế giới và thực tiễn tại Việt Nam cho thấy, thương mại và môi trường có mối liên hệ chặt chẽ. Mục tiêu của chính sách thương mại trước hết là nhằm quản lý và phát triển thương mại, nhưng chính sách thương mại cũng có thể góp phần thực hiện các mục tiêu bảo vệ môi trường và ngược lại, chính sách môi trường có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới thương mại.

Tuy nhiên, các biện pháp bảo vệ môi trường cũng có những tác động hạn chế đối với thương mại, đặc biệt là khi được áp dụng hoặc lạm dụng một cách có chủ ý, chúng sẽ trở thành những rào cản trá hình đối với các thương mại. Đây là vấn đề quan tâm sâu sắc của nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam là nhóm nước thường có quyền lợi xuất khẩu gắn liền với những mặt hàng có ảnh hưởng lớn đến môi trường như nông sản. Trên thực tế, Việt Nam ngày càng phải đương đầu với rất nhiều các yêu cầu môi trường từ các nước phát triển. Hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam bị Mỹ, cộng đồng châu Âu từ chối, trả lại nhiều do không đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường. Hậu quả xuất khẩu bị ảnh hưởng vì những tin đồn về chất diệt cỏ dioxin... Khi Việt Nam đã trở thành thành viên WTO, các nhu cầu về môi trường còn nghiêm ngặt hơn và đất nước cần có giải pháp để đối phó với các vấn đề liên quan đến thương mại - môi trường. Trong quan hệ thương mại với Việt Nam, các nước sẽ không ngừng sử dụng môi trường như một biện pháp phi thuế quan để vừa đáp ứng mục tiêu bảo hộ sản phẩm trong nước vừa không trái với quy định WTO và luật pháp quốc tế. Song nếu áp dụng các nguyên tắc pháp lý của WTO để xây dựng cà sử dụng tốt rào cản "xanh" này, Việt Nam cũng có lợi trong việc kiểm soát xuất khẩu nói chung và xuất khẩu hàng nông sản nói riêng liên quan đến môi trường, bảo vệ các ngành sản xuất trong nước.  

Đề tài đã Hệ thống hóa các quy định liên quan trực tiếp đến thương mại môi trường trong các Hiệp định của WTO. Với tư cách là thành viên của WTO, Hoa Kỳ đã áp dụng các quy định này đối với mặt hàng nông sản nhập khẩu như thế nào. Thông qua việc phân tích tác động của các quy định do WTO đưa ra và các quy  của Hoa Kỳ đối với các mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam đề tài đã đề xuất một số giải pháp để hạn chế những tác động tiêu cực qua đó hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản của Việt Nam vào Hoa Kỳ

Summary:

The study focuses on the  regulations related to environmental trade in WTO agreements. As a member of the WTO, the United States has applied these regulations for imported agricultural commodities. By analyzing the impact of the WTO regulations and the rules of the United States for the export of agricultural products of Vietnam, the study has proposed a number of measures to limit the negative impact thereby supporting the agricultural export enterprises of Vietnam to the United States

3.7. Tên đề tài: Tăng cường quản lý bản quyền giáo trình của các trường đại học kinh tế, quản trị kinh doanh trên địa bàn Hà Nội theo cách tiếp cận các cam kết của Việt Nam về hiệp định TRIPS (Nghiên cứu điển hình Đại học Thương Mại)

Chủ trì đề tài: ThS. Phan Thu Trang

Quyết định giao đề tài (hoặc Hợp đồng) số 354 ngày 24 tháng 11 năm  2010 của trường Đại học Thương mại

Quyết định nghiệm thu đề tài số 331 ngày 25  tháng 05 năm  2011 của trường Đại học Thương mại

Kết quả nghiệm thu đề tài (xếp loại): Xuất sắc

Tóm lược nội dung đề tài bằng tiếng Việt (350 - 400 từ)

Trong những năm gần đây, vấn đề bản quyền ở Việt Nam còn khá mới mẻ và ít được quan tâm. Trên  thực tế việc thực thi các cam kết về quyền sở hữu trí tuệ còn nhiều hạn chế, hiệu lực của hệ thống các quy định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ còn thấp, tính minh bạch và sự nghiêm minh trong thực thi pháp luật còn nhiều vấn đề cần xem xét,... dẫn đến tình trạng vi phạm, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đang diễn ra khá phổ biến. Trong khi đó lợi nhuận do vi phạm bản quyền mang lại rất lớn nên hoạt động này vẫn tiếp diễn. Đặc biệt tại các trường Đại học kinh tế, quản trị kinh doanh hiện nay, tình trạng vi phạm bản quyền giáo trình ngày càng lan rộng và đang là một vấn đề rất đáng được quan ngại.

Trên cơ sở tập hợp các quy định mới nhất sở hữu trí tuệ, đề tài đã nghiên cứu một cách toàn diện có hệ thống  các quy định của Hiệp định TRIPS và các chính sách quản lý về bản quyền tác giả. Đánh giá, phân tích tình hình thực thi các quy định của Hiệp định TRIPS và các chính sách quản lý bản lý nản quyền giáo trình của các trường đại học kinh tế, quản trị kinh doanh trên địa bàn Hà Nội nói chung và cụ thể ở đại học Thương Mại nói riêng để từ đó đề xuất một số hướng giải pháp nhằm tăng cường quản lý bản quyền giáo trình của các trường đại học kinh tế, quản trị kinh doanh trên địa bàn Hà Nội (nghiên cứu điển hình đại học Thương Mại) theo cách tiếp cận các cam kết của Việt nam về hiệp định TRIPS.

Summary:

The subject has a comprehensive study systematically the provisions of the TRIPS Agreement and the management policy on copyright. Assessment and analysis of the implementation of the provisions of the TRIPS Agreement and the management policy of discouraging the curriculum right of economic universities, business administration Hanoi on general and specific Trading in particular college from which to propose some solutions to enhance user rights management curriculum of the university economics, business administration in Hanoi (typical university research Commerce) approach of Vietnam's commitments to the TRIPS Agreement.

3.8. Tên đề tài: Nghiên cứu các yêu tố tác động đến xuất khẩu nông sản dựa trên mô hình chuỗi cung ứng

Chủ trì đề tài: ThS Phan Thu Trang

Quyết định giao đề tài (hoặc Hợp đồng) số 348/QĐ-ĐHTM ngày 24  tháng 6 năm  2013

của trường Đại học Thương mại

Quyết định nghiệm thu đề tài số 265/QĐ-ĐHTM ngày 24  tháng 4 năm  2014 của trường Đại học Thương mại

Kết quả nghiệm thu đề tài (xếp loại): khá

Tóm lược nội dung đề tài bằng tiếng Việt (350 - 400 từ)

Nông sản luôn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam nhưng thực tế hiện nay các mặt hàng xuất khẩu nông sản của nước ta chủ yếu là xuất khẩu thô nên có giá trị xuất khẩu thấp. Vì vậy việc thay đổi tư duy để xây dựng một nền nông nghiệp theo hướng thị trường và phát triển các chuỗi cung ứng bền vững nhằm nâng cao giá trị hàng hóa là vô cùng cần thiết. Trên thực tế sự tham gia của các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản vào chuỗi cung ứng hàng nông sản xuất khẩu chỉ ở khâu chế biến. Tuy nhiên, muốn đảm bảo rằng sản phẩm hàng nông sản xuất khẩu đáp ứng các quy định ngày càng khắt khe của các nhà nhập khẩu các doanh nghiệp cần tăng cường sự tham gia của mình vào chuỗi cung ứng hàng nông sản xuất khẩu. Quá trình xuất khẩu nông sản bị tác động bởi rất nhiều yếu tố như chất lượng hàng nông sản, quá trình bảo quản, vận chuyển..vv.. vì vậy để thúc đẩy các mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam thì việc xác định các yếu tố tác động đến xuất khẩu hàng nông sản là một vấn đề quan trọng. Hiện nay có rất nhiều đề tài đã nghiên cứu các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu nhưng chưa tập trung nghiên cứu các yếu tố tác động đến xuất khẩu dựa trên chuỗi cung ứng hàng nông sản. Tuy nhiên muốn đưa ra được giải pháp thúc đẩy xuất khẩu nông sản một cách có hiệu quả thì việc đánh giá mức độ tác động của các yếu tố đến quá trình xuất khẩu dựa vào chuỗi cung ứng hàng nông sản là một nội dung quan trọng cần phải được nghiên cứu.

Đề tài đã tập trung xây dựng mô hình chuỗi cung ứng hàng nông sản xuất khẩu, dựa trên mô hình chuỗi cung ứng, xây dựng nhóm các nhân tố có khả năng tác động đến xuất khẩu nông sản, sử dụng số liệu khảo sát để phân tích các tác nhân đó có tác động đến các khâu trong chuỗi cung ứng nông sản xuất khẩu hay không và nếu có thì mức độ tác động của các nhân tố đó như thế nào. Trên cơ sở phân tích các yếu tố đó đề tài đã đề xuất các hướng giải pháp để hạn chế các tác động nghịch chiều và tận dụng các tác động thuận chiều nhằm thúc đẩy xuất khẩu nông sản

Summary:

The study focuses on building supply chain model of export of agricultural products, based on the model of the supply chain, build groups of factors potentially affecting agricultural exports, using survey data to analyze the factors that have impact on the stages in the supply chain of agricultural exports or not, the level of impact of factors. Based on the analysis of the factors that have proposed topics oriented solutions to limit the negative relationship and leverage the positive impact to promote agricultural exports.

3.9. Tên đề tài: Nghiên cứu tác động của thực thi Hiệp định hợp tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA)  đến xuất khẩu nông sản Việt Nam sang Nhật Bản

Chủ trì đề tài: Vũ Anh Tuấn

Quyết định giao đề tài: QĐ Số 348 /QĐ - ĐHTM của Hiệu trưởng Đại học Thương mại Phê duyệt đề tài KH&CN cấp cơ sở năm học 2013-2014 ngày 24 tháng 6 năm 2013

Quyết định nghiệm thu đề tài số 354 ngày 19 tháng 06 năm 2014 của trường Đại học Thương mại

Kết quả nghiệm thu đề tài (xếp loại): tốt

Tóm lược nội dung đề tài bằng tiếng Việt (350 - 400 từ)

Việt Nam và Nhật Bản đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức từ ngày 21/09/1973 và đã phát triển thuận lợi trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng… nhằm hướng tới xây dựng quan hệ đối tác tin cậy và ổn định lâu dài. Năm 2006, Việt Nam và Nhật Bản quyết định nâng tầm quan hệ giữa hai nước thành “quan hệ đối tác chiến lược” vì hòa bình và phát triển. Sau ba năm đàm phán xây dựng đối tác kinh tế, ngày 25/12/2008, Chính phủ hai nước đã ký Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (Hiệp định VJEPA) và bắt đầu có hiệu lực từ ngày  01/10/2009. Hiệp định đã mở ra triển vọng phát triển hơn nữa quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại giữa hai nước.

Theo Hiệp định định VJEPA cùng với những thỏa thuận kinh tế đã ký trước đó giữa Việt Nam và Nhật Bản sẽ tạo ra khung pháp lý toàn diện, ổn định và thuận lợi cho hoạt động thương mại và đầu tư giữa hai nước. Nhưng theo đánh giá của nhiều chuyên gia kinh tế, các doanh nghiệp Việt Nam chưa tận dụng được các lợi thế tại thị trường Nhật Bản khi tham gia xuất khẩu nông sản vào nước này. Từ khi thực hiện Hiệp định Đối tác kinh tế Việt - Nhật (VJEPA), nông sản Việt Nam có nhiều lợi thế hơn tại thị trường Nhật Bản như được giảm thuế theo lộ trình, không bị kiện bán phá giá, kiện chống trợ cấp như tại Mỹ, EU… Tuy nhiên, để tận dụng được hết những ưu thế này, các doanh nghiệp cần quan tâm đầu tư tăng chất lượng sản phẩm nhiều hơn nữa.

Đề tài đã nghiên cứu đánh giá thực trạng xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang Nhật Bản và tác động của thực thi Hiệp định hợp tác kinh tế VIệt Nam – Nhật Bản (VJEPA) đến hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam. Từ đó, đề tài đưa ra một số khuyến nghị nhằm thúc đẩy xuất khẩu nông sản Việt Nam sang thị trường Nhật Bản trong bối cảnh thực thi Hiệp định hợp tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA).

Summary:

Vietnam and Japan established diplomatic relations officially on 21.09.1973 and had favorable development in all fields of politics, economy, culture, defense ... towards building relationships reliable partner and long-term stability.. After three years of negotiations, Vietnam - Japan economic Partnership Agreement VJEPA started to take effect from 01 / 10/2009. But in the judgment of many economists, Vietnam businesses not to take advantage of the advantage in the Japanese market joining agricultural exports to this country. This studied to assess the status of agricultural exports from Vietnam to Japan and the impact of the implementation of VJEPA to agricultural export activities of Vietnam.

3.10. Tên đề tài: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xác định trị giá tính thuế theo quy định của WTO tại Việt Nam hiện nay

Chủ trì đề tài: CN. Nguyễn Vi Lê, CN. Vũ Anh Tuấn

Quyết định giao đề tài (hoặc Hợp đồng) số 325  ngày 26  tháng 11 năm  2010 của trường Đại học Thương mại

Quyết định nghiệm thu đề tài số 357 ngày 03  tháng 06 năm  2011 của trường Đại học Thương mại

Kết quả nghiệm thu đề tài (xếp loại): tốt

Tóm lược nội dung đề tài bằng tiếng Việt (350 - 400 từ)

Đề tài của chúng tôi gồm có 4 chương, nghiên cứu về thực trạng cũng như đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác xác định trị giá tính thuế theo quy định của WTO tại cục hải quan thành phố hà nội.

Đề tài của chúng tôi đề cập đến những nôi dung chính như sau: Những lý luận cơ bản về công tác xác định trị giá tính thuế theo quy định của WTO; Đánh giá tổng quan tình hình các nhân tố môi trường bên trong và bên ngoài của công tác xác định trị giá tính thuế theo quy định của WTO tại cục hải quan thành phố Hà Nội; Phân tích đánh giá thực trạng công tác xác định trị giá tính thuế theo quy định WTO tại cục hải quan thành phố hà nội; Nêu lên quan điểm giải quyết các bất cập trong công tác xác định trị giá tính thuế theo quy định của WTO tại cục hải quan thành phố Hà Nội.

Summary

Our subject’s main contents:

  • Basic theory of indentifying taxable value according to WTO regulation.

  • General assessment of internal and external factors of taxable value identification according to WTO regulation at Hanoi Customs Bureau.

  • Analyze and evaluate actual situation of taxable value identification according to WTO regulation at Hanoi Customs Bureau.

  • Raise oppinions of solving matters of taxable value identification according to WTO regulation at Hanoi Customs Bureau.

3.11. Tên đề tài: Gian lận thương mại trong nhập khẩu ô tô mới nguyên chiếc tại VIệt Nam thời gian qua

Chủ trì đề tài: Ths. Lê Thị Thuần, Nguyễn Vi Lê

Quyết định giao đề tài (hoặc Hợp đồng) số 881/ QĐ-ĐHTM ngày 23 tháng 11 năm  2011 của trường Đại học Thương mại

Quyết định nghiệm thu đề tài số 861 ngày 26 tháng 05 năm 2012 của trường Đại học Thương mại

Kết quả nghiệm thu đề tài (xếp loại): Tốt

Tóm lược nội dung đề tài bằng tiếng Việt (350 - 400 từ)

Đề tài nghiên cứu gồm bốn chương nhằm giải quyết những vấn đề sau: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về gian lận thương mại nói chung cũng như các đặc điểm về mặt hàng ô tô mới nguyên chiếc; Phân tích, đánh giá thực trạng gian lận thương mại trong hoạt động nhập khẩu ô tô mới nguyên chiếc tại Việt Nam trong thời gian qua; Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế tình trạng gian lận thương mại trong hoạt động nhập khẩu ô tô mới nguyên chiếc tại Việt Nam trong thời gian qua.

Summary (60 - 100 từ)

Our subject’s main contents:

- Formalized rationale of commercial fraud in general and the characteristics of new cars in complete units.

- Analysis and assessment of commercial fraud in the operation of new cars imported in Vietnam in recent years.

- Propose some measures to curb commercial fraud in the operation of new cars imported in Vietnam in recent years.

3.12. Tên đề tài: Nghiên cứu tăng cường hiệu quả của hệ thống quản lý rủi ro phân luồng hồ sơ trong lĩnh vực hải quan ở nước ta hiện nay

Chủ trì đề tài: Nguyễn Vi Lê

Quyết định giao đề tài (hoặc Hợp đồng) số 369 ngày 17  tháng 11 năm  2013 của trường Đại học Thương mại

Quyết định nghiệm thu đề tài số 358 ngày 16 tháng 06 năm 2014 của trường Đại học Thương mại

Kết quả nghiệm thu đề tài (xếp loại): Tốt

Tóm lược nội dung đề tài bằng tiếng Việt (350 - 400 từ)

Quản lý rủi ro (QLRR) là một phương pháp quản lý hải quan hiện đại, được quy định thành tiêu chuẩn trong Công ước KYOTO của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO). Việc áp dụng QLRR không những đem lại hiệu quả tối ưu cho cơ quan Hải quan trong bối cảnh hạn chế về nguồn lực hiện nay mà còn đem lại những lợi ích rất lớn cho cộng đồng doanh nghiệp (DN) bằng việc đánh giá và lựa chọn kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm, minh bạch hoá hoạt động hải quan.

Theo đánh giá của Tổng cục Hải quan, kỹ thuật QLRR là phương tiện hữu hiệu để đảm bảo cùng lúc thực hiện công tác kiểm soát hải quan và thuận lợi hóa thương mại. Nhờ có việc lựa chọn hàng hóa và hành khách trọng điểm để kiểm tra, quá trình thông quan và giải phóng hàng được diễn ra nhanh hơn.

Các lô hàng và những người được xác định có độ rủi ro thấp sẽ ít bị Hải quan can thiệp và khâu làm thủ tục được diễn ra nhanh chóng, thuận lợi. Điều này giúp tạo ra một loạt các lợi ích như: Phân bố nguồn nhân lực hiệu quả hơn, tăng nguồn thu ngân sách, nâng cao được tính tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp, cải thiện mối quan hệ cộng tác giữa Hải quan và doanh nghiệp, giảm bớt thời gian giải phóng hàng, giảm chi phí giao dịch...

Thực tế, QLRR là một phần trong quản lý chiến lược của cơ quan Hải quan hiện đại. Nó không chỉ để tránh và giảm thiểu mất mát, thiệt hại mà còn hỗ trợ đắc lực cho việc tạo thuận lợi cho hoạt động hải quan, đặc biệt trong hoạt động phân luồng để xử lý thong quan hang hoá.

Tuy nhiên, do mới đi vào thực hiện, nên hệ thống quản lý rủi ro còn khá mới mẻ đối với nhiều doanh nghiệp, nhiều chi cục hải quan, đồng thời còn tồn tại những vấn đề bất cập cần được giải quyết. Do đó có thể nói, nghiên cứu hệ thống quản lý rủi ro trong phân luồng hồ sơ hải quan là một vấn đề cấp thiết đặt ra hiện nay.

Summary (60 - 100 từ)

Our subject’s main contents:

- Systemize the theoretical basis of risk management systems streamlined profile in the field of customs.

- Analysis of the current status of risk management systems streamlined profile in the field of customs in our country today

        - Propose some solutions to improve the risk management system streamlined profile in the field of customs in our country today

3.13. Tên đề tài: Các biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế tại một số quốc gia và điều kiện áp dụng tại Việt Nam

Chủ trì đề tài: Ths. Nguyễn Thùy Dương

Quyết định giao đề tài (hoặc Hợp đồng) số 746 QĐ/ĐHTM tháng 11/2012 của hiệu trưởng trường Đại học Thương mại

Quyết định nghiệm thu đề tài số 574/ĐHTM/KHĐN ngày 18/8/2013 của trường Đại học Thương mại

Kết quả nghiệm thu đề tài (xếp loại): Tốt

Tóm lược nội dung đề tài bằng tiếng Việt (350 - 400 từ)

Trong những năm gần đây, hàng hoá của Việt Nam xuất khẩu ra nước ngoài cũng như hàng hoá sản xuất trong nước phải chịu sức ép cạnh tranh rất lớn từ phía hàng hoá nước ngoài. Hàng hoá Việt Nam ở nước ngoài liên tục phải đối mặt với các vụ kiện của các công ty nước ngoài về bán phá giá, trợ cấp xuất khẩu và điều tra tự vệ. Những vụ kiện và tranh chấp thương mại trên mà hệ quả là hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam bị áp dụng các biện pháp trừng phạt như chịu thuế suất bổ sung và áp đặt hạn ngạch từ phía các đối tác nước ngoài đã gây ra không ít khó khăn về tiếp cận thị trường và chiến lược xuất khẩu của Việt Nam.

Trong bối cảnh hàng hóa Việt Nam  chịu sức ép cạnh tranh gay gắt từ hai phía thì việc đặt ra nhu cầu bảo hộ nói chung và tự vệ nói riêng cho các ngành sản xuất trong nước bị tác động bởi chính sách mở của tự do hoá thương mại và dỡ bỏ hàng rào thuế quan là rất cần thiết.

Để giải quyết vấn đề này, các nước đều phải xây dựng một chính sách thích hợp làm công cụ điều tiết vĩ mô hiệu quả để giảm thiểu ảnh hưởng bất lợi do các biến động trên thị trường quốc tế gây ra. Chính sách tự vệ thương mại chính là một trong những công cụ quan trọng đáp ứng mục tiêu bảo vệ ngành sản xuất trong nước nói trên.

Đề tài tập trung tìm hiểu những vấn đề cơ bản về biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế theo quy định của WTO, cũng như thực trạng áp dụng tại một số quốc gia thành viên WTO như Mỹ, EU, Trung Quốc.

Trên cơ sở những vấn đề lý luận và thực tiễn, rút ra những kinh nghiệm cho việc triển khai áp dụng các biện pháp tự vệ ở Việt Nam.

Summary

In recent years, Vietnam's goods export abroad as well as domestically produced goods suffered enormous competitive pressure from foreign goods. Vietnam goods abroad constantly facing lawsuits from foreign companies about dumping, export subsidy and safeguard investigations. These lawsuits and trade disputes on which consequently exports of Vietnam subject to sanctions as additional tax rate and impose quotas from the foreign partner has caused no difficulties in market access and export strategy of Vietnam.

In the context of Vietnam commodity pressure of fierce competition from two sides, the demand for protection set out in general and in particular to safeguard the domestic industry affected by the policies of liberalization opening trade and tariff barriers removal is necessary.

To solve this problem, countries are required to develop a suitable policy instruments effective macro-regulation to minimize the adverse effects caused by fluctuations in the international market caused. Trade defense policy is one important tool to meet the goal of protecting domestic industries mentioned above.

The theme focused on learning the basics of self-defense measures in international trade under WTO rules, as well as the application situation in a number of WTO member countries such as the US, EU and China.

Based on theoretical issues and practical experiences drawn for deploying application of safeguard measures in Vietnam.

3.14. Tên đề tài: Ảnh hưởng của hoạt động làng nghề tái chế chất thải tới môi trường sinh thái các tỉnh phía Bắc

Chủ trì đề tài: ThS Nguyễn Quốc Tiến

Quyết định giao đề tài (hoặc Hợp đồng) số 348 /QĐ-ĐHTM ngày 14 tháng 06 năm 2013 của Hiệu trưởng trường Đại học Thương mại

Quyết định nghiệm thu đề tài số 485 ngày 28/6/2014 của Hiệu trưởng trường Đại học Thương mại

Kết quả nghiệm thu đề tài (xếp loại): Tốt

Tóm lược nội dung đề tài bằng tiếng Việt (350 - 400 từ)

Để giải quyết vấn đề chất thải hiện nay có nhiều biện pháp đã được đưa ra sử dụng nhằm giảm thiểu lượng chất thải ra môi trường, giảm những tác động ra môi trường. Chẳng hạn như các biện pháp tái sử dụng, chất thải, chôn lấp chất thải, tái chế chất thải… Trong đó biện pháp tái chất thải đã mang lại nhiều lợi ích cho con người như tiết kiệm được tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu lượng chất thải ra môi trường, tạo ra công ăn việc làm cho con người. Ở nước ta, việc tái chế chất thải đã được tiến hành ở các làng nghề tái chế chất thải, nhờ đó giúp cho kinh tế ở nhiều vùng phát triển, nhưng bên cạnh đó hoạt động tái chế chất thải của các làng nghề đã gây ra những tác động lớn đến môi trường như ô nhiễm môi trương không khí, môi trường nước, môi trường đất và sức khỏe người dân ở các làng nghề đó. Chính vì vậy đề tài “Ảnh hưởng của hoạt động làng nghề tái chế chất thải tới môi trường sinh thái các tỉnh phía Bắc” đã được tiến hành.

Đề tài này đã hệ thống hoá cơ sở lý luận về ô nhiễm môi trường ở các làng nghề tái chế chất thải. Đánh giá tổng quan tình hình hoạt động của các làng nghề tái chế chất thải và ô nhiễm môi trường ở các làng nghề tái chế chất thải ở khu vực phía Bắc Việt nam, tìm ra các nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường ở các làng nghề tái chế và đề ra các giải pháp hạn chế các tác động này

Summary

To solve the problem of waste there are now many measures have been put to use in order to minimize the amount of waste into the environment, reduce the impact on the environment. Measures such as re-use, waste, landfill waste, recycling waste ... which measures re waste has brought many benefits to humans as saving natural resources, reducing amounts of waste into the environment, create jobs for people. In our country, the recycling of waste was conducted in the villages of recycling waste, thus helping economic development in many areas, but besides waste recycling activities of the villages has caused the major impact on the environment such as pollution of air, water, soil environment and health of the people in the villages there. Therefore the topic "Effects of village activity waste recycling to the ecological environment of the North" have been carried out.

This topic has systematized rationale of environmental pollution in craft villages waste recycling. Assessment review the operations of the village waste recycling and environmental pollution in the waste recycling village in northern Vietnam, find out the cause of environmental pollution in the Recycling villages and propose solutions to limit the impact of this

3.15. Tên đề tài: Vai trò của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tới tạo việc làm: nghiên cứu điển hình trường hợp tỉnh Hải Dương

Chủ trì đề tài: Ths. Nguyễn Duy Đạt

Quyết định giao đề tài (hoặc Hợp đồng) số 461/QĐ-ĐHTM ngày 28/6/2013 của Đại học Thương mại

Quyết định nghiệm thu đề tài số 482/QĐ-ĐHTM ngày 28/6/2014 của Hiệu trưởng trường Đại học Thương mại

Kết quả nghiệm thu đề tài (xếp loại): Tốt

Tóm tắt:

Cùng với xu thế phát triển mạnh mẽ của thương mại quốc tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng, đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội tại nước tiếp nhận vốn. Tuy nhiên, các đóng góp của FDI tại nhiều quốc gia còn gây nhiều tranh cãi. Thực tế tại Việt Nam trong những năm qua, những đóng góp của FDI tới nền kinh tế nước có những tác động tích cực nhất định. Một mặt, FDI không chỉ cung cấp vốn thiếu hụt cho nền kinh tế mà còn giúp thúc đẩy xuất khẩu khi các doanh nghiệp FDI chiếm tới 64% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2012. Mặt khác, vai trò của FDI với tạo việc làm vẫn còn hạn chế khi khu vực có vốn FDI chỉ tạo ra việc làm cho trên 1,7 triệu lao động, chiếm 3,4% tổng số lao động có việc làm. Cần có những nghiên cứu chỉ ra tác động của FDI tới tạo việc làm nhằm đóng góp cho chiến lược thu hút FDI trong thời gian tới khi hàng năm chúng ta có hơn một triệu người gia nhập lực lượng lao động. Vì vậy, làm rõ đóng góp của FDI với tạo việc làm tại Việt nam là rất quan trọng đối với chiến lược thu hút FDI vào nước ta trong thời gian tới. Phần tiếp theo, nghiên cứu sẽ tổng quan các lý thuyết về vai trò của FDI tới tạo việc làm. Đặc biệt nghiên cứu tập trung xây dựng những lý thuyết đầu tiên về tác động lan tỏa gián tiếp của FDI tới tạo việc làm trong nền kinh tế cũng như kiểm chứng chúng trên thực tế thông qua khảo sát tình hình việc làm tại địa bàn nghiên cứu điển hình. Điều này là rất quan trọng khi mà các lý thuyết hiện tại chưa đề cập nhiều tới tác động này

Summary

Along with the trend of strong growth of international trade, foreign direct investment (FDI) is increasingly becoming important resources, contributing to the socio-economic development in the country receiving the capital. However, the contribution of FDI in many countries still controversial. The reality in Vietnam in recent years, the contribution of FDI to the country's economy has certain positive effects. On the one hand, FDI not only provides capital shortfall for the economy but also help promote exports as FDI accounted for 64% of total exports in 2012. On the other hand, the role of FDI for job creation still limited while the FDI sector only created employment for over 1.7 million workers, 3.4% of total labor force employed. It should have the research shows the impact of FDI on employment in order to contribute to a strategy to attract FDI in the future when we have every year over a million people joined the labor force. So, to clarify the contribution of FDI to employment generation in Vietnam is very important for the strategy to attract FDI in our country in the future. The next section, the study will review the theory of the role of FDI on employment. Special research focus on building the first theory about the indirect spillover effects of FDI on employment in the economy as well as our proven fact by examining the employment situation at the field site Typical research. This is very important since the current theory has not been much to this effect


 

3.16. Tên đề tài: Nghiên cứu thực tiễn áp dụng cơ chế kiểm toán và quản lý sinh thái EMAS đối với doanh nghiệp nuôi trồng thủy hải sản Việt nam xuất khẩu sản phẩm vào thị trường EU

Chủ trì đề tài: Lê Quốc Cường

Quyết định giao đề tài (hoặc Hợp đồng) Mã số: CS-2014-21 của Trường đại học thương mại

Quyết định nghiệm thu đề tài số. 267-ĐHTM ngày 24 tháng  4 năm 2014 của Trường Đại học Thương mại

Kết quả nghiệm thu đề tài (xếp loại): Tốt

Tóm lược nội dung đề tài bằng tiếng Việt (350 - 400 từ)

Thị trường Châu Âu là một thị trường xuất khẩu hết sức quan trọng của Việt Nam, chiếm một phần lớn các mặt hàng nông sản, đặc biệt là mặt hàng thủy hải sản với kim ngạch nhập khẩu lên đến hàng tỷ USD/năm. Đây là thị trường hết sức tiềm năng nhưng cũng có những quy định hết sức nghiêm ngặt liên quan đến quá trình nhập khẩu các sản phẩm từ các quốc gia khác, đặc biệt quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Việc chứng minh nguồn gốc xuất xứ, giá thành sản phẩm cũng như các yêu cầu về môi trường, sinh thái trong quá trình sản xuất và chế biến mặt hàng này ngày càng được thực hiện một các chặt chẽ hơn. Đứng trước thực trạng đó, để có thể duy trì và phát triển, không ai khác mà các doanh nghiệp phải tự cải tiến hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, thích ứng với đòi hỏi của thị trường, của người tiêu dùng.

Thực tế cho thấy, người tiêu dùng EU có nhu cầu và định hướng trong tiêu dùng các sản phẩm có tính bền vững và thân thiện với môi trường. Do đó, sản phẩm thủy sản của Việt Nam muốn giữ vững vị thế trên thị trường EU nói riêng, quốc tế nói chung cần được định hướng theo mục tiêu phát triển, nâng cao chất lượng ngay từ khu vực sản xuất nguyên liệu, đó là quản lý khai thác kết hợp bảo vệ nguồn lợi, đặc biệt quản lý chất lượng môi trường nuôi thủy sản. Một trong các biện pháp mà đã được thừa nhận, khuyến khích áp dụng bởi EU hiện nay và đã đem lại lợi ích mang tính lâu dài cho tổ chức áp dụng đó là hệ thống quản lý môi trường EMAS. Thực hiện được hệ thống quản lý môi trường quan trọng này trong nuôi trồng thuỷ hải sản không chỉ có ý nghĩa trước mắt thúc đầy hoạt động xuất khẩu sản phẩm này sang thị trường EU, mà còn có ý nghĩa lâu dài trong mục tiêu phát triển bền vững, giúp giảm thiểu chi phí thiệt hại do ô nhiễm môi trường mà nước ta phải gánh chịu.

Summary

European markets is an export market is very important in Vietnam, accounting for a large part of agricultural products, especially seafood items with import turnover of up to several billion dollars / year. This is a very potential market but also the very strict regulations concerning the importation of products from other countries, particularly developing countries like Vietnam. The proof of origin, product costs as well as environmental requirements, ecology during production and processing of commodities increasingly implemented these more closely. Facing this reality, in order to maintain and develop, no one else that businesses have to improve production operations of their business, adapt to the demands of the market and of consumers.

In fact, EU consumers demand and in consumer-oriented products that are sustainable and environmentally friendly. Therefore, aquatic products of Vietnam wants to hold the position in the EU market in particular, international general should be oriented development goals, enhance the quality right from raw material production area, which the management and exploitation combined resource protection, particularly environmental quality management of aquaculture. One of the measures that have been recognized, encouraged to apply by the current EU and has brought long-term benefits to organizations that apply environmental management system EMAS. Implement a system of environmental management is important in marine aquaculture not only mean immediate action promoting export products to the EU market, but also have long-term significance of goals sustainable development, help to reduce the cost of damage caused by environmental pollution that our country suffers.


 

III. Các bài báo khoa học đã công bố:

1. Trên tạp chí khoa học nước ngoài

2. Tạp chí khoa học trong nước (tính điểm)

2.1. Tên bài: Xuất khẩu giầy dép của Việt nam vào thị trường Hoa kỳ

Tên tác giả (đồng tác giả): PGS.TS.Doãn Kế Bôn

Tên tạp chí đăng tải: Tạp chí và Thuế nhà nước

Số xuất bản: 32 - trang: 24;   Tháng năm xuất bản: 3/2011;    Thành phố: Hà Nội

Tóm lược nội dung bằng tiếng Việt (200 - 250 từ)

      Giầy dép là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt nam, trong đó Hoa kỳ là thị trường tiềm năng,  nhưng là thị trường khó tính, đòi hỏi khắt khe về chất lượng, có nhiều quy định về hàng rào kỹ thuật, nhu cầu đa dạng, và thường xuyên biến đổi. Xuất khẩu giầy dép vào Hoa kỳ đã đạt được nhiều kết quả, nhưng khả năng mở rộng và đổi mới mặt hàng chưa cao,giá trị gia tăng và  hiệu quả xuất khẩu thấp. Để đạt được mục tiêu tăng trưởng,  tăng giá trị gia tăng cho hàng giầy dép xuất khẩu thì việc nghiên cứu, tìm kiếm các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu giầy dép vào thị trường Hoa kỳ là một vấn đề đặt ra cho các cơ quan quản lý và các doanh nghiệp Việt nam.

Bài viết tập trung phân tích các đặc điểm của thị trường Hoa kỳ về hàng giầy dép, phân tích đánh giá thực trạng xuất khẩu giầy dép, đưa ra định hướng, đề xuất giải pháp đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả xuất khẩu giầy dép của Việt nam vào thị trường Hoa kỳ

Summary (60 - 120 từ)

Footwear is the main export items of Vietnam, in which the US is a potential market, but the market is difficult, demanding in terms of quality, there are many regulations on technical barriers, needs diverse, and constantly changing. Exports of footwear in the United States have achieved many results, but scalable and innovative goods is not high, value-added and export efficiency low. To achieve growth, increased value added for footwear export, research, identify measures to promote exports of footwear in the US market poses a problem for agencies management and Vietnamese enterprises.

Articles focus on analyzing the characteristics of the US market for footwear, analyze and assess the status of footwear exports, giving orientations and propose solutions to accelerate and improve the efficiency of exports of footwear Vietnam's market in the US

2.2. Tên bài: Xuất khẩu hàng hóa của Việt nam vào thị trường Liên bang Nga khi Nga là thành viên của WTO

Tên tác giả (đồng tác giả): PGS.TS.Doãn Kế Bôn

Tên tạp chí đăng tải: Tạp chí Khoa học Thương mại

Số xuất bản:43 - trang: 26     Tháng năm xuất bản: 6/2012    Thành phố: Hà Nội

Tóm lược nội dung bằng tiếng Việt (200 - 250 từ)

           Liên bang Nga là một thị trường truyền thống, rộng lớn, có nhu cầu đa dạng, không đòi hỏi khắt khe về chất lượng hàng hóa, đã hoàn tất thủ tục gia nhập WTO, có các cam kết về mở cửa thị trường và thực hiện các  quy định của WTO, đã  tạo điều kiện thuận lợi cho các nước xuất khẩu hàng hóa vào Nga. Xuất khẩu của Việt nam vào Liên bang Nga đã đạt được nhiều kết quả, nhưng Việt nam còn nhập siêu từ  Nga, khả năng mở rộng và đổi mới mặt hàng chưa cao, khả năng cạnh tranh và  hiệu quả xuất khẩu còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng là đối tác chiến lược .Tuy nhiên, Nga vẫn  là thị trường  có nhiều triển vọng đối với hàng hóa xuất khẩu của nước ta . Để tận dụng các cơ hội khi Nga là thành viên của WTO, thì việc nghiên cứu để đẩy mạnh xuất khẩu vào Liên bang Nga là một vấn đề cấp thiết.

     Bài viết đi sâu nghiên cứu đặc điểm thị trường, các cam kết về thuế, phi thuế, khi Nga gia nhập WTO,  phân tích thực trạng, từ đó đề xuất các giải pháp để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa  vào thị trường Liên bang Nga.

Summary (60 - 120 từ)

Russia is a traditional market, a large, diverse needs, not demanding in terms of quality merchandise, has completed the WTO accession procedures, with the commitment to open markets and real implement the provisions of the WTO, have created favorable conditions for commodity-exporting countries in Russia. Vietnam's exports to Russia have achieved many results, but Vietnam is still deficit with Russia, scalability and low commodity innovation, competitiveness and export performance is low, less commensurate with potential strategic partners However, the Russian market remains promising for exports of our country. To take advantage of these opportunities when Russia's membership of WTO, the research to boost exports to the Russian Federation as a matter of urgency.

      This paper to examine characteristics of the market, the commitment to tax, non-tax, when Russia joined the WTO, analyze the situation, then propose solutions to boost the export of goods in the Russia market.

2.3. Tên bài: Tác động của hiệp định SPS của WTO đến XK rau quả của Việt nam vào thị trường Hoa kỳ

Tên tác giả (đồng tác giả): PGS.TS. Doãn Kế Bôn

Tên tạp chí đăng tải: Tạp chí Khoa học Thương mại

Số xuất bản: 54 - trang: 27 Tháng năm xuất bản: 12/2013 + 1/2014 Thành phố: Hà Nội

Tóm lược nội dung bằng tiếng Việt (200 - 250 từ)

Hoa kỳ là thị trường có nhiều tiềm năng đối với mặt hàng rau quả xuất khẩu của nước ta. Nhưng Hoa kỳ cũng là thị trường có những quy định rất khắt khe về chất lượng, đặc biệt là về về sinh dịch tế theo hiệp định SPS của WTO, đã tác động không nhỏ đến tăng trưởng và hiệu quả xuất khẩu rau quả của nước ta. Mặc dù xuất khẩu rau quả vào thị trường Hoa kỳ đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, nhưng kim ngạch xuất khẩu còn thấp, mức tăng trưởng chưa ổn định, khả năng  phát triển mặt hàng mới còn chưa cao, thường xuyên vướng phải các quy định về các biện pháp vệ sinh dịch tễ. Vì vậy, nghiên cứu các tác động của hiệp định SPS và có các giải pháp để đẩy mạnh xuất khẩu rau quả vào thị trường Hoa kỳ là một vấn đề cấp thiết.

  Bài viết sử dụng các số liệu thứ cấp, phân tích các quy định của Hiệp định SPS và của Hoa kỳ về các biện pháp vệ sinh dịch tễ và tác động của nó đến xuất khẩu rau quả, đề xuất các giải pháp, phát huy các tác động tích cực, hạn chế các tác động tiêu cực, nâng cao khả năng cạnh tranh, đẩy mạnh xuất khẩu rau quả vào thị trường Hoa kỳ.

Summary (60 - 120 từ)

The United States is the market potential for exporting vegetables and fruits of our country. But the US market is also very strict regulations in terms of quality, especially in terms of international student services under the WTO SPS agreement, have a significant impact on growth and efficiency of water and vegetable export dozen. Although exports of vegetables to the US market has achieved encouraging results, but exports are still low, unstable growth, ability to develop new products is still low, often entangled to the provisions of the Sanitary and Phytosanitary Measures. So, study the impact of the SPS Agreement and solutions to boost vegetable exports to the US market as a matter of urgency.

   Paper using secondary data, analyze the provisions of the SPS Agreement and the United States on sanitary and phytosanitary measures and the impact of it to export vegetables, propose solutions and promote the positive impact, limiting the negative impact, enhance competitiveness, boost exports vegetables to the US market.

2.4. Tên bài: Tranh chấp liên quan đến việc áp dụng các biện pháp tự vệ giữa các thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO) và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam để sử dụng hiệu quả hiệp định về các biện pháp tự vệ

Tên tác giả (đồng tác giả): Lê Thị Việt Nga

Tên tạp chí đăng tải: Tạp chí kinh tế đối ngoại

Số xuất bản: 46 - trang: 25; Tháng năm xuất bản: 2011; Thành phố: Hà Nội

Tóm lược nội dung bằng tiếng Việt (200 - 250 từ):

Song song với tự do hóa thương mại, các biện pháp phòng vệ thương mại như chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ được các quốc gia trên thế giới sử dụng ngày càng nhiều. Điều đáng nói, nhiều khi các biện pháp này được lạm dụng như rào cản phi thuế để bảo hộ ngành sản xuất và thị trường trong nước hơn là những biện pháp nhằm đảm bảo cạnh tranh công bằng. Để điều chỉnh thương mại giữa các thành viên trên nguyên tắc ‘thúc đẩy cạnh tranh công bằng’ và ‘thương mại ngày càng tự do hơn’ vì mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng và phát triển của thương mại thế giới trên nền tảng phát triển bền vững, WTO đã có những quy định điều chỉnh việc áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại trong đó có các biện pháp tự vệ. Mặc dù vậy, thực tế vẫn có những tranh chấp phát sinh. Do đó, là thành viên của WTO, Việt Nam cần sử dụng Hiệp định về các biện pháp tự vệ như thế nào để đạt được những kết quả thiết thực. Bài viết mong muốn chia sẻ một số suy nghĩ về bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam, những kiến nghị để Việt Nam sử dụng hiệu quả Hiệp định về các biện pháp tự vệ sau khi nghiên cứu, tìm hiểu các tranh chấp giữa các thành viên của WTO liên quan Hiệp định này và thực trạng áp dụng biện pháp tự vệ của Việt Nam trong thời gian vừa qua.

Summary:

Safeguard measures restrict imports of a product temporarily if a domestic industry is seriously injured or threatened with serious injury caused by a surge in imports. However, safeguards, sometimes, are used as non tariff measures to protect domestic industries and local market rather than ensuring fair competion. To deal with the application of safeguard measures among WTO’s members with the purpose of ensuring freer trade and promoting fair competion, the Agreement on Safeguards of WTO was issued. However, there actually have been disputes arising under this agreement among WTO’s members. As a member of the organistion, it is neccesary for Vietnam to understand and implement effectively the Agreement on Safeguards. The paper, therefore, suggests some lessons for Vietnam to use effectively the Agreement after viewing some outstanding disputes among WTO’s members relating to applying safeguard measures and the experiences of Vietnam in using safeguards in the last few years.

2.5. Tên bài: Kinh nghiệm phát triển dịch vụ vận tải biển của Trung Quốc và bài học cho Việt Nam

Tên tác giả (đồng tác giả): Lê Thị Việt Nga

Tên tạp chí đăng tải: Tạp chí kinh tế đối ngoại

Số xuất bản: 53 - trang: 93-100; Tháng năm xuất bản: 8/2012; Thành phố: Hà Nội

Tóm lược nội dung bằng tiếng Việt (200 - 250 từ):

Việt Nam là một quốc gia có nhiều lợi thế để phát triển dịch vụ vận tải biển. Việc Việt Nam gia nhập WTO và thực hiện những cam kết mở cửa thị trường dịch vụ vận tải biển vừa mang lại cho các doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam những cơ hội để phát triển, vừa đặt ra những thách thức trong việc cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài. Để phát triển dịch vụ vận tải biển của Việt Nam xứng đáng lợi thế và tiềm năng của đất nước cũng như để giúp cho các doanh nghiệp vận tải biển trong nước có khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài, cần tìm hiểu kinh nghiệm phát triển dịch vụ vận tải biển của các quốc gia trên thế giới và rút ra bài học cho Việt Nam. Bài viết này lựa chọn Trung Quốc để nghiên cứu kinh nghiệm phát triển dịch vụ vận tải biển vì Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia có biển, có chung đường biên giới, tương đồng về chế độ chính trị và văn hóa, cùng trong nhóm những Thành viên đang phát triển có nền kinh tế chuyển đổi khi gia nhập WTO. Vì vậy, sau khi giới thiệu khái quát về sự phát triển dịch vụ vận tải biển của Trung Quốc và những kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc phát triển dịch vụ vận tải biển, tác giả mạnh dạn rút ra một số bài học cho Việt Nam.

Summary:

Vietnam has many advantages to develop maritime transport. It is, therefore, necessary for Vietnam to learn lessons from other countries. The paper study some experience of China in developing maritime transport and lessons for Vietnam

2.6. Tên bài: Những điều kiện đảm bảo cho sự phát triển dịch vụ vận tải biển của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Tên tác giả (đồng tác giả): Lê Thị Việt Nga

Tên tạp chí đăng tải: Tạp chí kinh tế đối ngoại

Số xuất bản: 55 - trang: 65-74; Tháng năm xuất bản: Tháng 3/2013; Thành phố: Hà Nội

Tóm lược nội dung bằng tiếng Việt (200 - 250 từ):

Hàng năm, từ 80 – 90% khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu của thế giới và khoảng 80% khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam được vận chuyển bằng tàu biển. Trong nhiều năm qua, đội tàu biển và hệ thống cảng biển của Việt Nam đã được đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường. Tuy nhiên, dịch vụ vận tải biển của Việt Nam mới chỉ đáp ứng được khoảng 15% - 18% nhu cầu trong nước đối với việc vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển, các dịch vụ tại cảng biển cũng chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế thị trường. Đặc biệt, với việc thực hiện các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường dịch vụ vận tải biển, dịch vụ vận tải biển của Việt Nam cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức trong bối cảnh môi trường kinh doanh trong nước và quốc tế có nhiều biến động về kinh tế, chính trị và sự cạnh tranh gay gắt. Chính vì vậy, để đảm bảo sự phát triển của dịch vụ vận tải biển của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, cần xác định những điều kiện đảm bảo cho sự phát triển dịch vụ vận tải biển của Việt Nam, trong đó đặc biệt là các điều kiện về khung pháp luật, điều kiện về đội tàu, điều kiện về cảng biển, điều kiện về nguồn hàng và điều kiện về nguồn nhân lực trong lĩnh vực dịch vụ vận tải biển. Bài viết sẽ phân tích vì sao cần những điều kiện như vậy để phát triển dịch vụ vận tải biển của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Summary:

The paper mentions five conditions to develop maritime transport, including legal condition, fleet condition, port condition, goods condition and personal condition. The paper also analyse the reasons why we need such conditions.

2.7. Tên bài: Hiệp định TBT và vấn đề quan ngại thương mại

Tên tác giả (đồng tác giả): Lê Thị Việt Nga

Tên tạp chí đăng tải: Tạp chí kinh tế đối ngoại

Số xuất bản: 70 - trang: 30-36 Tháng năm xuất bản: T2/2015  Thành phố: Hà Nội

Tóm lược nội dung bằng tiếng Việt (200 - 250 từ):

Sử dụng những biện pháp kỹ thuật nhằm đảm bảo an ninh quốc gia, bảo vệ sức khỏe, sự an toàn cho con người, đời sống động thực vật, bảo vệ môi trường và tránh những hành động man trá là cần thiết, chính nghĩa, hợp pháp. Tuy nhiên, để các biện pháp kỹ thuật không thể trở thành rào cản trong thương mại quốc tế, các thành viên của WTO phải tuân thủ Hiệp định TBT khi xây dựng và sử dụng những biện pháp kỹ thuật. Nếu một thành viên có những biện pháp kỹ thuật không phù hợp với Hiệp định này sẽ có thể bị các thành viên khác bày tỏ quan ngại hoặc yêu cầu tham vấn tại Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO. Là thành viên của WTO, bên cạnh việc tuân thủ những quy định của tổ chức này, Việt Nam cũng cần biết cách bảo vệ lợi ích của mình trước sự vi phạm của thành viên khác hoặc biết cách đối phó với những quan ngại về TBT. Bài viết này đề cập đến vấn đề quan ngại thương mại liên quan đến Hiệp định TBT và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam.

Summary:

Using technical measures to ensure national security, health protection, safety for human, animal and plant life, protect the environment and avoid fraudulent actions are necessary, justness , legal. However, to the technical measures can not become barriers to international trade, WTO members must comply with the TBT Agreement to build and use these technical methods. If a member of the technical measures is inconsistent with this Agreement may be subject to other members expressed concern or request consultations in dispute settlement body of the WTO. As a member of the WTO, in addition to compliance with the rules of this organization, Vietnam also needs to know how to defend their interests before the violation of another member or know how to deal with concerns about TBT . This article refers to the problem of trade concerns related to the TBT Agreement and the problems posed to Vietnam

2.8 Tên bài: Hạn chế rủi ro trong xuất khẩu thủy sản Việt Nam

Tên tác giả (đồng tác giả): Nguyễn Bích Thủy

Tên tạp chí đăng tải: Tạp chí Kinh tế và phát triển

Số xuất bản: 32 - trang: 27; Tháng năm xuất bản: số tháng 4/2011; Thành phố: Hà Nội

Tóm lược nội dung bằng tiếng Việt (200 - 250 từ)

Rủi ro tồn tại khách quan trong hoạt động kinh doanh nói chung và trong quá trình xuất khẩu thủy sản ở công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Hà Nội nói riêng. Tần suất xuất hiện rủi ro có thể nhiều ở khâu này, ít ở khâu kia, gây ra tổn thất lớn hoặc nhỏ, dưới hình thức này hay hình thức khác, nhưng không có khâu nào của quá trình xuất khẩu là hoàn toàn không có rủi ro. Hạn chế rủi ro là cần thiết, không chỉ bởi vì rủi ro có thể dẫn đến những thiệt hại, tổn thất cho công ty, làm giảm uy tín lợi nhuận của công ty trong kinh doanh xuất khẩu thủy sản, mà còn bởi vì hạn chế rủi ro đã trở thành một nguồn lợi thế cạnh tranh đối với các công ty hiện đại ngày nay, giúp nâng cao uy tín, thương hiệu của công ty trên thị trường, giúp thu hút bạn hàng, loại bỏ những đối tác không tin cậy và mang lại sự phát triển bền vững cho công ty.

Summary: Risk exists objectively in seafood export. And Preventing risk is essencial because not only it damage physically and inherently to the enterprises, but also risk prevention becomes a source of competitive advanrage of the today’s modern companies. The research based on result from questionnaires on the seafood exporting enterpirises to find out their mistake in risk management, so point out causes and suggest measures to minimize loss of seafood exporting

2.9. Tên bài: Quản trị rủi ro trong xuất khẩu thủy sản: Thực trạng và giải pháp

Tên tác giả (đồng tác giả): Nguyễn Bích Thủy

Tên tạp chí đăng tải: Tạp chí Khoa học Thương mại

Số xuất bản: 46 - trang: 34; Tháng năm xuất bản: số tháng 6/2011; Thành phố: Hà Nội

Tóm lược nội dung bằng tiếng Việt (200 - 250 từ)

Quản trị rủi ro trong xuất khẩu thủy sản chưa được các cấp quản lý, nghiên cứu và doanh nghiệp quan tâm một cách hợp lý trong những năm qua. Song, cuộc khủng hoảng xuất khẩu thủy sản hiện nay và những bất lợi của xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong thời gian qua cho thấy cần có một hệ thống giải pháp đồng bộ và hữu hiệu nhằm giúp xuất khẩu thủy sản Việt Nam phát triển bền vững trong thời gian tới. Bài viết sẽ chỉ ra các rủi ro trong xuất khẩu thủy sản sản Việt Nam, thành công và hạn chế trong công tác phòng ngừa rủi ro, tìm ra nguyên nhân để từ đó đề xuất giải pháp phòng ngừa rủi ro trong xuất khẩu thủy sản Việt Nam.

Summary:

Risk exist objectively in business in general and seafood exporting process in particular. Risk prevention is necessary, not only because risk can cause damage for the enterprises, making decrease their prestige, profits of the seafood exporting, but also the risk prevention becomes a source of competitive advantage for the modern enterprises, promoting its brandname in the market, marketing, putting aside inconfidential partners and bring about sustainale development of the enterprises.

2.10. Tên bài: Hạn chế rủi ro xuất khẩu thủy sản Việt Nam theo cách tiếp cận quản lý kinh tế

Tên tác giả (đồng tác giả): Nguyễn Bích Thủy

Tên tạp chí đăng tải: Tạp chí khoa học Thương mại

Số xuất bản: số54 - trang: 37; Tháng năm xuất bản: 5/2013; Thành phố: Hà Nội

Tóm lược nội dung bằng tiếng Việt (200 - 250 từ)

Rủi ro tồn tại khách quan trong đời sống kinh tế-xã hội, gây ảnh hưởng rộng lớn và phức tạp đến mọi khía cạnh của hoạt động sản xuất kinh doanh. Rủi ro tác động hầu hết đến các khâu trong quá trình xuất khẩu thủy sản từ con giống, thức ăn, hóa chất, nuôi trồng, chế biến đến làm thủ tục xuất khẩu thủy sản. Để hạn chế rủi ro trong xuất khẩu thủy sản cần có một tầm nhìn chiến lược từ Chính phủ, Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản (VASEP) và doanh nghiệp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản trên cơ sở phát triển bền vững có tính đến lợi ích của xã hội và doanh nghiệp.

Summary (60 - 120 từ)

The research analyzes the real state of risk prevention in seafood exporting of the Vietnamese enterprises, identifuying risks in seafood exporting, analyzing measures risk prevention in seafood exporting of the government, VASEP and the enterprises in order to asses the risk prevention. From that giving conclusion of success, failure of the risk prevention and finding out causes of the failure.


 

2.12. Tên bài: Tái cơ cấu doanh nghiệp và đẩy nhanh quá trình hội nhập-Kinh nghiệm và giải pháp

Tên tác giả (đồng tác giả):Nguyễn Bích Thủy

Tên tạp chí đăng tải: Tạp chí Nghiên cứu Thương mại

Số xuất bản: 35 - trang: 56; Tháng năm xuất bản: tháng 4/2011; Thành phố: Hà Nội

Tóm lược nội dung bằng tiếng Việt (200 - 250 từ)

Mỗi một quốc gia đều trông đợi ở các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) sẽ kết hợp được sức mạnh của các DN tư nhân với việc theo đuổi các mục tiêu xã hội tương ứng - tức là trông đợi vào tính hiệu quả kinh tế và tính công bằng xã hội. Song trên thực tế, tình trạng các DNNN hoạt động kém hiệu quả, trở thành gánh nặng đối với ngân sách , làm suy yếu cơ sở định hướng và quản lý điều tiết nền kinh tế của nhà nước là khá phổ biến. Tính cấp thiết của vấn đề cải cách các DNNN càng nghiêm trọng vào những thời điểm Chính phủ phải đương đầu với những khó khăn gay gắt về mặt tài chính.

Summary:

Nation put expectation of cooperating the strength of private enterprises and the social purposes on the governmental enterprises. But in fact, the governmental enterprises often work under its capacity, turning out to be a burden of the governmental budget, weakening the economy. Thus, enterprises restructuring is essential in the international economic intergration.

2.13. Tên bài: Tăng cường quản lý nhà nước trên thị trường rau sạch

Tên tác giả (đồng tác giả): Mai Thanh Huyền

Tên tạp chí đăng tải: Tạp chí kinh tế dự báo

Số xuất bản: 58 - trang: 46; Tháng năm xuất bản: 2013; Thành phố: Hà Nội

Tóm lược nội dung bằng tiếng Việt

Rau sạch là nhu cầu thiết yếu của xã hội trong giai đoạn hiện nay nhưng thực tế trên thị trường rất khó để kiểm soát chất lượng rau. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và sự an toàn của người dân Việt Nam đặc biệt người dân ở các thành phố lớn hiện nay. Có thể thấy để kiểm soát được thị trường rau sạch thì vai trò của quản lý nhà nước là rất cần thiết. Bài viết đề cập đến thực trạng về thị trường rau sạch hiện nay trên một số địa bàn tiêu thụ lớn, nguyên nhân của việc khó kiểm soát được chất lượng rau. Vai trò của quản lý nhà nước và một số giải pháp để quản lý thị trường rau sạch trên các địa bàn chính hiện nay.

Summary:

Fresh vegetables are essential needs of society in the current period but the market reality very difficult to control the quality of vegetables. This directly affects the health and safety of the people of Vietnam in particular people in big cities today. It was found to control the fresh vegetable market, the role of state management is essential. Posts mention the status of the current market fresh vegetables on a large consumption areas, the causes of difficulties in controlling the quality of vegetables. The role of state management and a number of measures to manage the market fresh vegetables on the current sites.

2.14. Tên bài: Tăng cường hiện đại hóa thủ tục hải quan Việt nam thông qua hệ thống VNACCS/VCIS

Tên tác giả (đồng tác giả): Mai Thanh Huyền

Tên tạp chí đăng tải: Tạp chí kinh tế dự báo

Số xuất bản: 15 - trang: 50-52; tháng 8/2014; Thành phố: Hà Nội

Tóm lược nội dung bằng tiếng Việt (200 - 250 từ)

Kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO cải cách hành chính là một trong những vấn đề chịu nhiều sức ép cùng với quá trình hội nhập. Hoạt động Hải quan đặc biệt là cải cách thủ tục hải quan hướng đến hiện đại hóa được Chính phủ Việt nam và Tổng cục Hải quan rất chú trọng. Sau khi thực hiện quy trình hải quan điện tử một thời gian thì bắt đầu năm 2014, Việt nam đưa ứng dụng VNACCS/VCIS vào hệ thống hải quan và đã có những kết quả nhất định. Bài viết phân tích quá trình ứng dụng VNACCS/VCIS trong hải quan điện tử của Việt nam, thực trạng sau một thời gian ứng dụng từ đó chỉ ra những vấn đề còn bất cập cần khắc phục. Tác giả cũng đưa ra những gợi ý để giải quyết bất cập nhằm hiện đại hóa thủ tục hải quan Việt nam trong thời gian tới đây.

Summary:

Reforms to modernize the operation inevitable trend of state management in general , the state management of customs in particular , in accordance with the development orientation of Customs world and the region. As of the date of 07.31.2013 , there were 42 096 enterprises involved in the implementation of electronic customs procedures , accounting for 94.7 % of all enterprises to implement customs procedures nationwide . From 2005 to now , electronic Customs Vietnam has undergone several reforms , changes to an excellent day . Namely Decision No. 2341 / QD - BTC of the Ministry of Finance official mandatory national businesses to use digital signatures registered with the customs authorities when implementing electronic customs procedures since day 11/01/2013. According to the General Department of Customs , the mandatory use of digital signature is applied always in phase test run automated customs clearance system under national OSS service customs modernization in Vietnam - VNACCS / VCIS ( from month to month 2/2014 11/2013 ) to ensure safety,enhance the validity of the declared customs transactions , prevent fraud and violations.

2.15. Tên bài: Thực trạng và giải pháp cho doanh nghiệp may mặc Việt Nam vượt rào cản thương mại quốc tế trong tiến trình hội nhập

Tên tác giả (đồng tác giả): Mai Thanh Huyền

Tên tạp chí đăng tải: Tạp chí kinh tế dự báo

    Trang 31; Tháng năm xuất bản: 12/2011; Thành phố:Hà Nội

Tóm lược nội dung bằng tiếng Việt (200 - 250 từ)

Quá trình hội nhập thương mại quốc tế vừa là cơ hội cũng vừa là thách thức cho các doanh nghiệp Việt nam đặc biệt các doanh nghiệp may xuất khẩu. Một trong những khó khăn lớn nhất của các Doanh nghiệp xuất khẩu Việt nam hiện nay đó là rào cản thương mại. Đối với ngành may măc Việt nam, hiện nay các thị trường xuất khẩu chính là Hoa Kỳ và EU, đây cũng là những thị trường có những rào cản thương mại cao đặc biệt với các nhóm rào cản kỹ thuật. Bài viết đã nêu lên thực trạng chính trong hoạt động xuất khẩu hàng may mặc của các doanh nghiệp Việt nam, những vấn đề khó khan trong việc vượt rào cản thương mại ở những thị trường chính. Từ đó, tác giả cũng đã đưa ra một số gợi ý chính sách của Nhà nước cũng như những giải pháp của doanh nghiệp để giúp các doanh nghiệp may Việt Nam vượt rào cản thương mại xuất khẩu sang những thị trường chính.

Summary:

In recent years, the difficulties of the global financial downturn, the pressure nature of trade protectionism in some countries around the world have tended to increase, especially in the United States and the EU countries. With the trend of globalization, countries have committed to lowering tariff barriers so countries today protectionist trade primarily by the non-tariff barriers. Among the non-tariff barriers, technical barriers system is considered one of the most effective measures to prevent imports, especially imports from developing countries. Fences are expressed under different forms, but it is related to the issue of quality standards of goods, technology, manufacturing process as well as the packaging, labeling, transportation and storage and all other processes such as testing, inspection, inspection, quality control ... on goods. This has caused difficulties for the exporters of our country, especially for businesses operating in the textile sector. Therefore, to implement development strategies , promoting exports of clothing to the US market , requiring Vietnam garment enterprises need to learn , study of the US market in which special attention should be paid to the technical barriers that the United States apply to textile goods in general and for textile products of Vietnam in particular.

2.16. Tên bài: Giải pháp tang cường sử dụng và quản lý bản quyền giáo trình của các trường đại học kinh tế, quản trị kinh doanh trong tiến trình thực thi các cam kết gia nhập WTO

Tên tác giả (đồng tác giả): Phan Thu Trang

Tên tạp chí đăng tải: Tạp chí Kinh tế và dự báo

Số xuất bản: 11 - trang: 20; Tháng năm xuất bản: 6, 2013; Thành phố: Hà Nội.

Tóm lược nội dung bằng tiếng Việt (200 - 250 từ)

Ngay sau khi gia nhập WTO, Việt Nam cam kết thực hiện đầy đủ Hiệp định về các khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPS). Cho đến nay, Việt Nam đã triển khai một cách toàn diện các cam kết hội nhập trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, đã đạt được nhiều tiến bộ, đáp ứng phần lớn các yêu cầu đặt ra. Tuy nhiên, trên  thực tế việc thực thi các cam kết về quyền sở hữu trí tuệ còn nhiều hạn chế, hiệu lực của hệ thống các quy định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ còn thấp, tính minh bạch và sự nghiêm minh trong thực thi pháp luật còn nhiều vấn đề cần xem xét,... dẫn đến tình trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ đang diễn ra khá phổ biến. Đặc biệt tại các trường Đại học kinh tế, quản trị kinh doanh hiện nay, tình trạng vi phạm bản quyền giáo trình ngày càng lan rộng và đang là một vấn đề rất đáng được quan ngại. Bài viết này đề cập tới thực trạng sử dụng và quản lý bản quyền giáo trình của các trường đại học kinh tế, quản trị kinh doanh  và đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường quản lý bản quyền giáo trình trong tiến trình thực thi các cam kết gia nhập WTO.

Summary:

After joining the WTO, Vietnam has committed to fully implement the Agreement on trade related aspects of Intellectual Property Rights (TRIPS). Vietnam has implemented a comprehensive integration commitments in the field of intellectual property, have achieved much progress, meeting most of the requirements set forth. However, in practice the implementation of commitments on intellectual property rights are limited. This article refers to the situation of use and copyright management curriculum of the university economic universities, business administration and proposed a number of measures and proposals to strengthen copyright management curriculum in progress implementation of WTO accession commitments

2.17. Tên bài: Tăng cường sự tham gia của hàng nông sản Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu

Tên tác giả: Phan Thu Trang

Tên tạp chí đăng tải: Tạp chí Kinh tế và dự báo

Số xuất bản: 5 - trang: 39; Tháng năm xuất bản: 3, 2014; Thành phố:. Hà Nội.

Tóm lược nội dung bằng tiếng Việt (200 - 250 từ)

Việt Nam có lợi thế cạnh tranh về xuất khẩu nông sản do điều kiện tự nhiên thuận lợi và chi phí lao động thấp. Tuy nhiên, những lợi thế này ngày càng giảm trong điều kiện cạnh tranh thương mại toàn cầu hiện nay. Trong bối cảnh như vậy, việc tăng cường sự tham gia của hàng nông sản vào chuỗi giá trị toàn cầu càng trở nên cần thiết. Hiện này, nông sản của Việt Nam đã tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu nhưng mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp đầu vào là nông sản thô, trong khi giá trị gia tăng đối với hàng nông sản lại chủ yếu do khâu chế biến, bao gói và hoạt động thương mại. Bài viết tập trung phân tích thực trạng tham gia của hàng nông sản Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu và đưa ra hướng giải pháp nhằm tăng cường sự tham gia của hàng nông sản Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Summary:

Vietnam has a competitive edge in agricultural exports because of favorable natural conditions and low labor costs. However, this advantage is decreasing in the conditions of global trade competition. In the context, it is necessary to strengthen the participation of agricultural products in the global agri-food value chains. In recent years, Vietnam’s agricultural products have joined in global value chains but just stopped at providing raw agricultural imputs. While the most value added in food processing industry mainly created in processing, packaging, and commercial activities. Therefore, this paper aims to propose several solutions in order to enhance the integration of Vietnamese agricultural products into global value chains.

2.18. Tên bài: Xuất khẩu nông sản - Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và phát triển bền vững

Tên tác giả: Phan Thu Trang

Tên tạp chí đăng tải: Tạp chí Kinh tế và dự báo

Số xuất bản: 14 - trang: 25; Tháng năm xuất bản: 7, 2014; Thành phố:. Hà Nội.

Tóm lược nội dung bằng tiếng Việt (200 - 250 từ)

Bài viết tập trung phân tích thực trạng xuất khẩu nông sản của Việt Nam giai đoạn 2010 – 2014 tập trung vào các mặt hàng chủ lực là gạo, cà phê và rau củ quả. Qua phân tích bài viết đã chỉ rõ tiềm năng về xuất khẩu nông sản mà Việt Nam đang có đồng thời cũng đưa ra những khó khăn và rào cản mà các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản gặp phải ở một số thị trường xuất khẩu chủ lực như hoa Kỳ, EU và Nhật Bản. Thông qua việc phân tích cac yếu tố tác động đến xuất khẩu nông sản bài viết đã đề xuất các hướng giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và phát triển bền vững hàng nông sản xuất khẩu.

Summary:

The stduy focuses on export situation analysis of agricultural products such as rice, coffee and vegetables of Vietnam in the period 2010 - 2014. The article shows the potential of Vietnam agricultural exports and given the difficulties and barriers that exporters of agricultural products face on export in the United States, EU and Japan market. Through the analysis of these factors impact on agricultural export article proposed the solutions to improve the quality and sustainability of agricultural products export.

2.19. Tên bài: Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU trong giai đoạn hiện nay

Tên tác giả (đồng tác giả): Vũ Anh Tuấn

Tên tạp chí đăng tải: Tạp chí Kinh tế và dự báo

Số xuất bản: 14 - trang: 49; Tháng năm xuất bản: 7, 2013; Thành phố: Hà Nội.

Tóm lược nội dung bằng tiếng Việt (200 - 250 từ)

Liên minh Châu Âu (EU) là thị trường tiêu thụ thủy sản lớn nhất thế giới, là thị trường đầy tiềm năng cho các nhà xuất khẩu trong đó có Việt Nam. Trong những năm qua, hoạt động xuất thủy sản Việt Nam sang EU đã đạt được những thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính thế giới và khủng khoảng nợ của một số quốc gia thành viên đã làm ảnh hưởng đến nhu cầu nhập khẩu thủy sản của EU. Bên cạnh đó, EU đây cũng là thị trường có những yêu cầu nghiêm ngặt liên quan đến các sản phẩm nhập khẩu. Tất cả những điều này đã tác động không nhỏ đến hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Bài viết tập trung phân tích một số đặc điểm của thị trường thủy sản EU, đồng thời phân tích thực trạng và đưa ra một số giải pháp mang tính gợi ý nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản của Việt nam vào thị trường EU trong giai đoạn hiện nay.

Summary:

The European Union (EU) market is the largest seafood consumed in the world, is a potential market for exporters including Vietnam. In recent years, the fisheries activities of Vietnam to the EU has achieved remarkable achievements. However, the world financial crisis and debt crisis of some member states has affected the demand for impsorts of EU fisheries. Besides, the EU is also a market with strict requirements relating to imported products. All these have significant impacts to seafood exports of Vietnam. Articles focus on analyzing some characteristics of EU fisheries market, and analyze the situation and give some solutions suggested to boost seafood exports of Vietnam to the EU market during the period current time.

2.20. Tên bài: Myanmar - tiềm năng phát triển kinh tế giai đoạn tới

Tên tác giả (đồng tác giả): Nguyễn Vi Lê

Tên tạp chí đăng tải: Tạp chí Hội nhập, Bộ Công Thương

Số xuất bản: 14 - trang: 67; Tháng năm xuất bản: 7, 2013; Thành phố:. Hà Nội.

Tóm lược nội dung bằng tiếng Việt (200 - 250 từ)

Các nhà tư vấn của Viện toàn cầu McKinsey (McKinsey Global Institute - MGI) vừa công bố báo cáo, trong đó nhận định rằng Myanmar có tiềm năng tăng gấp 4 lần quy mô nền kinh tế vào năm 2030, nếu duy trì được ổn định chính trị-xã hội, đa dạng hóa các ngành và hướng tới công nghệ, tạo môi trường đầu tư và kinh doanh thông thoáng, quản lý và phát triển cơ sở hạ tầng. MGI cho rằng Myanmar có tiềm năng về đất đai, nhân lực và nguồn lực để mở rộng quy mô của nền kinh tế, từ 45 tỷ USD năm 2010 lên hơn 200 tỷ USD vào năm 2030, và tổng chi tiêu trong cùng kỳ có khả năng tăng từ 35 tỷ lên 100 tỷ USD, nhờ tầng lớp trung lưu dự kiến sẽ tăng khá mạnh. Tiềm năng tăng trưởng của kinh tế Myanmar dựa chủ yếu vào bốn lĩnh vực chính là năng lượng và khai thác mỏ, nông nghiệp, chế tạo và cơ sở hạ tầng, trong đó chế tạo giữ vị trí quan trọng nhất kể từ khi các công ty nước ngoài có thể hoạt động tại quốc gia Đông Nam Á này.

Summary (60 - 120 từ)

MGI said that Myanmar has the potential of land, manpower and resources to expand the size of the economy, from 45 billion in 2010 to more than $ 200 billion in 2030. The growth potential of the economy relies heavily on Myanmar four main areas: energy, mining, agriculture, manufacturing and infrastructure.

2.21. Tên bài: Đánh giá hiệu quả kinh tế của việc giảm thải khí nhà kính từ chất thải rắn tại thành phố Đà Nẵng

Tên tác giả (đồng tác giả): Nguyễn Nguyệt Nga

Tên tạp chí đăng tải: Môi trường (ISSN: 1859 - 042 X)

Số xuất bản: 3- trang: 51; Tháng năm xuất bản: 3/2012; Thành phố: Hà Nôi.

Tóm lược nội dung bằng tiếng Việt (200 - 250 từ)

Bài báo sử dụng phương pháp Phân tích chi phí lợi ích mở rộng nhằm so sánh hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế môi trường của hai kịch bản có hay không giảm thải khí nhà kính thông qua tái chế chất thải hữu cơ tại Đà Nẵng. Nghiên cứu không chỉ dừng lại dưới giác độ của nhà đầu tư mà quan trọng là tập trung xem xét việc giảm thải khí nhà kính từ việc tái chế chất thải hữu cơ sẽ đem lại hiệu quả kinh tế môi trường cho chính quyền thành phố Đà Nẵng như thế nào. Với các dữ liệu chủ yếu từ điều tra và nghiên cứu thuộc dự án: "Đánh giá ảnh hưởng phát kế hoạch phát triển kinh tế xã hội tới phát thải khí nhà kính từ chất thải rắn", tài trợ bởi "Quỹ hỗ trợ nghiên cứu nhỏ" của Chương trình học bổng Australia vì sự phát triển tại Việt Nam (ASDiV) – AusAID, bài báo cho thấy chính quyền địa phương nên lồng ghép phát triển và thực hiện các kế hoạch hành động cho việc giảm thiểu biến đổi khí hậu trong phát triển chiến lược, quy hoạch tổng thể và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

Summary (60 - 120 từ)

In this paper, extended cost-benefit analysis is used to compare financial and economic benefit of two scenarios of reducing greenhouse gas by recycling organic waste in Da Nang. The analysis is taken not only from investors’ viewpoints but also from the viewpoint of the society. Using data from Project “Assessing impact of socioeconomic development plan to greenhouse emission from solid waste” funded by Small Grant Fund of Australia Scholarship for Development in Vietnam – AUSAID, the analysis provides recommendation for local government to develop plans for integrating climate change issues into socioeconomics development plans.

2.22. Tên bài: Tăng cường năng lực cạnh tranh của các nhà phân phối nội địa

Tên tác giả (đồng tác giả): Ths. Phan Thu Giang

Tên tạp chí đăng tải: Kinh tế và Dự báo (ISSN: 0866.7120)

Số xuất bản: 06 - trang: 22-24; Tháng năm xuất bản: 3/2014; Thành phố: Hà Nội.  

Tóm lược nội dung bằng tiếng Việt

Ngành phân phối, bán lẻ nước ta đang trong giai đoạn chuẩn bị “bùng nổ” và có bước chuyển mạnh về chất, quy mô cũng như trình độ kinh doanh trên cơ sở phát huy những kết quả đạt được trong 10 năm qua. Tuy nhiên, đứng trước sự đe doạ mất thị phần ngay trên sân nhà khi các tập đoàn đa quốc gia đã đầu tư vào lĩnh vực này với hình thức 100% vốn nước ngoài ở Việt Nam thì bài toán năng lực cạnh tranh lại không hề đơn giản với hầu hết doanh nghiệp nội địa. Bài viết tập trung phân tích đặc điểm thị trường dịch vụ phân phối Việt Nam cũng như năng lực cạnh tranh của các nhà phân phối trong nước. Từ đó, đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của các nhà phân phối nội địa Việt Nam trước áp lực lớn từ các nhà phân phối nước ngoài.

Summary:

Distribution sector in Vietnam is the preparation phase "explosive" and have strong developments in quality, size and level of business on the basis of upholding the results achieved in the last 10 years. However, standing before the threat of losing market share in their home market as multinational corporations have invested in this sector in the form of 100% foreign investment in Vietnam, the competitiveness problem again not simple to most domestic enterprises. Articles focus on analyzing the characteristics of distribution services market Vietnam as well as the competitiveness of the domestic distributor. From there, offer a number of solutions to enhance the competitiveness of domestic distributors Vietnam before intense pressure from foreign distributors.

2.23. Tên bài: Các biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế tại một số quốc gia và gợi ý chính sách cho Việt Nam

Tên tác giả (đồng tác giả): Ths. Phan Thu Giang

Tên tạp chí đăng tải: Kinh tế và Phát triển  

Số xuất bản: 204(II) - trang: 139-146; Tháng năm xuất bản: 6/2014;  Thành phố: Hà Nội.  

Tóm lược nội dung bằng tiếng Việt:

Biện pháp tự vệ thương mại là một công cụ chính sách được sử dụng từ khá lâu tại nhiều quốc gia trên thế giới nhằm mục đích “đối phó” với hành vi thương mại hoàn toàn bình thường. Tuy nhiên, tại Việt Nam, việc am hiểu cũng như áp dụng biện pháp này vẫn còn khá mới mẻ. Bài viết tập trung vào thực tiễn áp dụng tại một số quốc gia, từ đó, đưa ra những gợi ý chính sách cho việc áp dụng một cách hiệu quả các biện pháp này tại Việt Nam.

Summary:

Safeguard measures in trade is a policy tool which has been used years ago in many countries in the worlds in order to cope with normally trade behaviors. However, it is still new to understand and apply these measures in Vietnam. This paper focuses on the fact of applying these measures in some countries and then shows some policy suggestions for using these tools efficiently for Vietnam. 

2.24. Tên bài: Một vài nhận định về việc xây dựng và áp dụng phí bảo vệ môi trường đối với khí thải tại Việt Nam

Tên tác giả (đồng tác giả): Lê Quốc Cường

Tên tạp chí đăng tải: Tạp chí công nghiệp

Số xuất bản: 08 - trang: 34;  Năm xuất bản: 2011; Thành phố: Hà nội

Tóm lược nội dung bằng tiếng Việt (200 - 250 từ)

Công nghiệp Việt nam là một lĩnh vực phát triển hết sức nhanh chóng và đóng góp chung cho sự phát triển đất nước. Tuy nhiên, Ngành công nghiệp lại là một ngành có ảnh hưởng lớn đến vấn đề ô nhiễm môi trường do khí thải của của các hoạt động sản xuất công nghiệp. Ô nhiễm môi trường không khí do hoạt động sản xuất công nghiệp đang gây tác hại nghiêm trọng đến sức khoẻ cộng đồng, thiệt hại cho nền kinh tề, đe dọa tới thiên nhiên và môi trường. Để giảm thiểu được các tác hại đó, một nguyên tắc thường được đề cập tới là nguyên tắc người làm tổn hại phải bồi thường. Theo đó các đối tượng phải nộp một khoản tiền bồi thường dưới dạng phí bảo vệ môi trường. Phí bảo vệ môi trường là một công cụ kinh tế nhằm nâng cao ý thức của chủ thể tiến hành hoạt động kinh tế, tạo nguồn thu cho quốc gia xử lý các vấn đề môi trường. Vì vậy, hoạt động xây dựng thử nghiệm phí bảo vệ môi trường đối với khí thải công nghiệp hiện nay là hết sức cần thiết.

Summary (60 - 120 từ):

Vietnam Industry is a developing field very quickly and contributed equally to the development of the country. However, the industry is an industry with great influence on environmental pollution problems caused by emissions of industrial production. Air Pollution from industrial activities are causing serious harm to public health or damage to the economy, threats to nature and the environment. To minimize the harmful effects that a principle often referred to as the principle that the harm must pay compensation. Accordingly the object to pay a compensation in the form of environmental protection fees. Fees for environmental protection is an economic tool to raise awareness of the subject of conducting economic, national revenue generation for handling environmental issues. Thus, construction activity testing environment protection fee for industrial gases is now urgently needed.

2.25. Tên bài: Giải pháp bền vững cho xuất khẩu cà phê Việt Nam

Tên tác giả (đồng tác giả): Lê Quốc Cường

Tên tạp chí đăng tải: Tạp chí Kinh tế và dự báo

Số tháng 8/2013 -  trang 47;  Thành phố: Hà Nội

Tóm lược nội dung bằng tiếng Việt (200 - 250 từ)

Cà phê là một trong những mặt hàng nông sản chính của Việt Nam, tạo nguồn thu ngoại tệ quan trọng từ xuất khẩu, đồng thời tạo công ăn việc làm, góp phần xóa đói giảm nghèo, cũng như tạo việc làm trong ngành công nghiệp chế biến. Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế khó khăn, giải pháp bền vững cho xuất khẩu cà phê cần phải được quan tâm nghiên cứu.

Summary (60 - 120 từ)

Coffee is one of the main agricultural products of Vietnam, creating an important foreign currency income from exports and create jobs, contributing to poverty reduction, and job creation in the industry Processing. However, the difficult economic context, sustainable solutions for coffee exports have been interested in studying.

2.26. Tên bài: Sử dụng phương pháp kiểm định đặc tính thay thế bình quân (Proxy means test) để xác định đối tượng nghèo

Họ và tên: Ths. Nguyễn Duy Đạt

Tên tạp chí đăng tải: Tạp chí khoa học Thương Mại.

Trang: 1; Tháng năm xuất bản: 12/2008;  Thành phố: Hà Nôi

Tóm tắt

Giảm nghèo là một trong những mục tiêu quan trọng nhất trong chương trinhg hành động của các chính phủ ở khắp nơi trên thế giới cũng như các tổ chức quốc tế. Kể từ năm 1998, chính phủ Việt Nam đã đặt ưu tiên trọng tâm vào công tác xoá đói giảm nghèo bằng việc tiến hành hàng loạt các chương trình trọng điểm quốc gia về xoá đói giảm nghèo. Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu trong công tác giảm nghèo được cộng đồng quốc tế đánh giá cao nhưng vẫn có khoảng 16% dân số Việt Nam sống dưới mức nghèo khổ theo chuẩn quốc tế vào năm 2006. Thách thức còn đặt ra khi nhiều người nghèo nói rằng họ không nhận được sự trợ giúp từ các chương trình xoá đói giảm nghèo của chính phủ khi không được đưa vào danh sách nghèo. Để thúc đẩy hơn nữa quá trình giảm nghèo của Việt Nam trong khi ngân sách hạn hẹp, điều quan trọng là phải đưa được nguồn lực tới tận tay người nghèo, những người thực sự cần sự hỗ trợ của chính phủ. Để làm tốt được điều này, các phương pháp xác định đối tượng nghèo được sử dụn cả trong lý thuyết và thực tế. Một phương pháp xác định đối tượng nghèo  hiệu quả hơn có thể giúp đạt được các thành tựu giảm nghèo ấn tượng hơn với cùng mức ngân sách hay có thể đạt được mục tiêu giảm nghèo đề ra với mức ngân sách thấp hơn. Một phương pháp xác định đối tượng nghèo được các nhà kinh tế đánh giá cao và sử dụng hiệu quả là phương pháp Kiểm định đặc tính thay thế bình quân. Phương pháp này sử dụng các đặc điểm dễ quan sát của các hộ và cộng đồng dân cư như là các biến số để xác định đối tượng nghèo.

Summary:

Poverty reduction is one of the most important goals of each nation in the world as well as international community. Since 1998, national programs on poverty reduction have been carried out by Vietnam government. Although Vietnam has achieved remarkable results in poverty reduction, in 2004, there remained about one fifth of Vietnam’s population living in poverty. Beside, a number of the poor said that they did not receive the help from these poverty reduction programs.

In order to foster poverty reduction process, it is necessary to evaluate national poverty reduction programs, especially methods for identifying the poor used in these programs. A good evaluation about methods for identifying the poor used in poverty reduction programs could help achieving higher results in poverty reduction. Besides, Building a good method for identifying the poor is a very important step.  A good method for identifying the poor used in poverty reduction programs could help achieving the maximum impact  from a given poverty-alleviation budget or achieve a given impact at the least budgetary cost.

In fact, there are not various studies about evaluating how well Vietnam has targeted the poor. In addition, there is a wildly-used, efficient method for identifying the poor called proxy means test. This method use easily-observing households’ characteristics and community traits of households as variables to predict welfare in order to identify who is really the poor.

This thesis use Proxy means test as a difference method comparing with other researchers to target the poor and examine how well this targeting method works by using VHLSS 2004. And it tries to contribute some suggestions for unbiased targeting the poor in Vietnam.

2.27. Tên bài: Vấn đề công bằng xã hội trong mô hình kinh tế thị trường xã hội của Đức và những vấn đề có thể áp dụng ở Việt Nam

Họ và tên: Ths. Nguyễn Duy Đạt

Tên tạp chí đăng tải: Tạp chí khoa học Thương Mại

Trang: 1; Tháng năm xuất bản: 10/2010; Thành phố: Hà Nôi

Tóm tắt:

Được bắt đầu xây dựng từ sau chiến tranh thế giới thứ II, mô hình kinh tế thị trường xã hội tại Đức không chỉ đưa nước Đức trở lại vị thế của một cường quốc kinh tế mà các chính sách trong việc đảm bảo công bằng xã hội cũng hết sức được chú trọng. Trong nền kinh tế Đức, vấn đề công bằng được đảm bảo dựa trên các yếu tố sau: Phân phối thu nhập lần đầu dựa vào thị trường cạnh tranh và thương lượng; Phân phối lại thu nhập trong xã hội thông qua hệ thống thuế và hệ thống an sinh xã hội (ASXH); Đảm bảo bình đẳng về cơ hội tiếp cận cho mọi người dân; Đảm bảo sự ổn định giá cả nhằm bảo vệ người nghèo.Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, sự khác biệt về trình độ phát triển của nền kinh tế cũng khiến cho việc sử dụng các kinh nghiệm của nước Đức trong việc phát triển công bằng xã hội ở Việt nam cần hết sức chọn lọc phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Summary:

Introduced after World War II, the social market economy model in Germany not only brought Germany back to the position of an economic powerhouse that the policies in ensuring justice Assembly is also very focused. In the German economy, the issue of fairness is guaranteed based on the following factors: first income distribution based on competitive markets and negotiation; Redistribution of income in society through the tax system and social security system (social security); Ensure equality of access for all citizens; Ensuring price stability in order to protect people ngheo.Tuy course, it should be noted that the difference in the level of economic development and making use of the experience of Germany in the development of social equality in Vietnam should be very selective suit Vietnam conditions.

2.28. Tên bài: Vấn đề chuyển giao công nghệ thông qua FDI

Họ và tên: Ths. Nguyễn Duy Đạt

Tên tạp chí đăng tải: Tạp chí Kinh tế dự báo

Trang 15; Tháng năm xuất bản: 3/2014; Thành phố: Hà Nôi

Tóm tắt:

Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI được đánh giá là kênh quan trọng để thu hút công nghệ từ các nước có nền công nghiệp tiên tiến vào Việt nam. Tuy nhiên một thực trạng diễn ra là phần lớn công nghệ được chuyển giao vào nước ta đều lạc hậu, hao phí tài nguyên và ảnh hưởng tới môi trường. Làm gì để thu hút nguồn vốn này mà không trở thành bãi rác thải của công nghệ cũ, lạc hậu là thách thức của các nhà hoạch định chính sách.

Summary:

Foreign Direct Investment (FDI) is considered as an important channel for attracting technology from industrialized countries advanced in Vietnam. However a situation occurs that most technology is transferred into our country are obsolete, resource consumption and environmental impact. What to do to attract this capital without becoming landfill of old technology, outdated is the challenge of policy makers.

2.29. Tên bài: Hệ thống Quản lý Môi trường với việc sử dụng Vòng tròn Deming PDCA

Tên tác giả (đồng tác giả): Nguyễn Quốc Tiến

Tên tạp chí đăng tải: Tạp chí khoa học Thương mại

Trang: 25;  Tháng năm xuất bản: 10/2012;  Thành phố: Hà Nôi

Tóm lược nội dung bằng tiếng Việt (200 - 250 từ)

Trong bối cảnh chúng ta đang xây dựng lại Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001 theo phiên bản 2008 và đang tích cực triển khai xây dựng và áp dụng Hệ thống quản lý môi trường (EMS ) xin phép được giới thiệu bài “Vòng tròn Deming PDCA – Công cụ không thể thiếu cho Hệ thống quản lý môi trường và quản lý hệ thống”. Bài viết này được tổng hợp từ các nguồn đã được đăng tải trên các báo hình, báo mạng, báo ngày…. của một số tác giả trong và ngoài nước.

Chúng tôi cũng không rõ ông có nghiên cứu nhiều về lý thuyết Quản trị hệ thống hay không, hay là do kinh nghiệm đời mà ông từng trải và tích luỷ được, song nghiệm thấy, đọc thấy và nghiên cứu thấy lý thuyết và thực tiễn  về Quản trị quản trị nói chung và Quản lý các hệ thống riêng lẻ (Ví dụ như Hệ thống quản lý chất lượng ISO; Hệ thống quản lý môi trường EMS; Hệ thống quản lý an toàn tàu biển ISM; Hệ thống quản lý an toàn các sản phẩm nông nghiệp Global GAP; Hệ thống quản lý an toàn sức khoẻ nghề nghiệp OHSAS; Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm HACCP, …..) và ngẫm tới những lời ông tâm sự thì quả là quá đúng tuyệt vời.      

Summary (60 - 120 từ)

In the context we are rebuilding our quality management system according to ISO 9001 version 2008 and are actively building and deploying applicable environmental management system (EMS) for permission to introduce the song "Circle Deming PDCA - Tool indispensable for environmental management system and management system. " This article has been compiled from sources was published in the newspaper picture, online media, daily newspapers .... of some domestic and foreign authors.

We do not know he has studied theoretical system governance or not, or experience life as he experienced and accumulated, but experience shows, read and study the theory and practice show Administration General administration and management of individual systems (for example, the quality management system ISO; Environmental Management System EMS; Management System ISM ship safety; safety management system Full agricultural products Global GAP Safety Management System OHSAS Occupational Health, Safety Management System HACCP, ... ..) and to reflect on the words he said it was too great right.


 

3. Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế bằng ngoại ngữ

3.1. Tên bài gốc: Vietnamese footwear industry and Functional upgrading in Global value chain

Tên bài bằng tiếng Việt: Ngành da giày Việt Nam và Nâng cấp chức năng trong chuỗi giá trị toàn cầu

Tên tác giả (đồng tác giả): Trương Quang Minh

Tên Kỷ yếu (chủ đề hội thảo): Integration: Achievements and Emerging issues

Tháng/năm hội thảo: 11/2013; Thành phố/nước hội thảo: Hà Nội

Trang bài viết: 208 - 220

Tóm tắt nội dung bằng tiếng Việt (350 - 400 từ)

Trong những năm gần đây, ngành da giày Việt Nam đã và đang hội nhập vào chuỗi giá trị da giày toàn cầu. Tuy nhiên, hầu hết các doanh nghiệp trong nước mới chỉ tập trung vào công đoạn sản xuất vốn thâm dụng về lao động nhưng đem lại phần giá trị gia tăng thấp nhất trong chuỗi. Trong khi đó, các công đoạn đem lại lợi nhuận cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu như nghiên cứu phát triển, thiết kế hay phân phối và tiêu thụ sản phẩm lại đang nằm trong tay các doanh nghiệp nước ngoài. Thực tế này đang đặt ra nhiều thách thức cho các doanh nghiệp trong nước nhất là trong bối cảnh sức ép cạnh tranh ngày một gay gắt hơn khi có sự tham gia vào thị trường của các doanh nghiệp mới đến từ các quốc gia có chi phí rẻ hơn. Trước tình hình này, nhiều học giả đã đề xuất việc nâng cấp chức năng trong chuỗi giá trị toàn cầu có thể được coi là giải pháp mang tính chiến lược cho các doanh nghiệp đến từ các quốc gia đang phát triển như Việt Nam vượt qua giai đoạn khó khăn này đồng thời có thể nâng cao hơn nữa vị thế trên trường quốc tế. Bài viết này sẽ tổng hợp tình hình thực tế đồng thời xác định vị trí của các doanh nghiệp da giày Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời, bài viết sẽ đưa ra một số giải pháp để giúp ngành giày da Việt Nam có thể thành công khi thực hiện nâng cấp chức năng trong chuỗi giá trị của ngành.  

Summary (100 - 150 từ)